Giữ mặt bằng lãi suất ổn định để hỗ trợ tăng trưởng
Tại Hội thảo "Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số", chiều 12/3, ông Nguyễn Lê Nam - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), cho biết, môi trường kinh tế vĩ mô thời gian qua chịu nhiều tác động bất lợi từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là bất ổn địa chính trị toàn cầu, chính sách đối ngoại của Mỹ và định hướng tiền tệ khó lường của các ngân hàng trung ương lớn.
Những biến động này khiến việc điều hành chính sách tiền tệ trở nên phức tạp hơn khi phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu đan xen: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và giảm thiểu các cú sốc bên ngoài để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt và bám sát diễn biến thị trường trong nước cũng như quốc tế. Các công cụ điều tiết được triển khai đồng bộ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại hối và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống tổ chức tín dụng.
Một trong những giải pháp được áp dụng thường xuyên là duy trì các phiên chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở với kỳ hạn và khối lượng linh hoạt theo diễn biến thị trường. Đồng thời, cơ quan điều hành cũng thực hiện nghiệp vụ bán ngoại tệ khi cần thiết để cung cấp thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống ngân hàng.
Song song với việc điều tiết thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước đã duy trì ổn định lãi suất điều hành sau các đợt giảm trước đó, qua đó giúp các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn với chi phí thấp.
Theo ông Nam, chính sách này góp phần ổn định mặt bằng lãi suất trên thị trường và tạo điều kiện cho các ngân hàng tiếp tục giảm chi phí vốn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận tín dụng. Cùng với đó, các tổ chức tín dụng cũng được yêu cầu công khai minh bạch lãi suất cho vay trên website, tiết giảm chi phí hoạt động và đẩy mạnh chuyển đổi số để phấn đấu hạ lãi suất cho vay. Nhờ các biện pháp điều hành này, lãi suất cho vay đối với các khoản vay mới hiện vẫn thấp hơn so với thời điểm cuối năm 2025.
Trong khi đó, thị trường ngoại hối cũng được điều hành linh hoạt thông qua cơ chế tỷ giá trung tâm. Việc phối hợp các công cụ chính sách tiền tệ cùng với can thiệp ngoại tệ khi cần thiết đã giúp hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài và đảm bảo nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ.
Ông Nguyễn Lê Nam – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Tăng trưởng tín dụng cao kỷ lục 15 năm
Dù vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong những năm gần đây cũng đang tạo ra những áp lực nhất định đối với hệ thống ngân hàng.
Theo ông Nam, năm 2025 tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19%, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong những tháng đầu năm 2026, tín dụng tiếp tục duy trì xu hướng tăng tích cực.
Tăng trưởng tín dụng mạnh đã góp phần hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng kinh tế, khi GDP năm 2025 đạt 8,02% trong khi lạm phát vẫn được kiểm soát theo mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ.
Tuy nhiên, một thực tế đáng chú ý là tăng trưởng tín dụng đang cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Điều này khiến áp lực thanh khoản và lãi suất có xu hướng gia tăng.
“Đáng lưu ý, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện đã vượt 144%, mức cao nhất trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Điều này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng”, ông Nam nhấn mạnh.
Nhiều tổ chức quốc tế đã cảnh báo về các rủi ro tiềm ẩn đối với hệ thống tài chính nếu nền kinh tế tiếp tục dựa quá nhiều vào kênh tín dụng ngân hàng, trong khi nguồn huy động của các ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn nhưng nhu cầu vốn của nền kinh tế lại mang tính trung và dài hạn.
Trong bối cảnh dư địa điều hành chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng ngày càng hạn chế, ông cho rằng việc phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, trở nên đặc biệt quan trọng.
Theo đó, chính sách tài khóa cần được triển khai theo hướng mở rộng có trọng tâm, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công để vừa tạo tác động trực tiếp, vừa dẫn dắt các động lực tăng trưởng khác của nền kinh tế.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt nhằm ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và sẵn sàng hỗ trợ tăng trưởng trong điều kiện phù hợp.
Ngoài ra, việc phát triển mạnh thị trường vốn cũng được xem là giải pháp quan trọng để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ việc thị trường chứng khoán được nâng hạng cũng như việc hình thành các trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng để thu hút thêm dòng vốn đầu tư.
“Thực tế từ Việt Nam và thế giới cho thấy tăng trưởng kinh tế cao chỉ thực sự bền vững khi được đặt trên nền tảng ổn định vĩ mô và lạm phát được kiểm soát tốt”, ông Nam nhấn mạnh.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, việc kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát không chỉ giúp neo giữ kỳ vọng thị trường mà còn củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân và nhà đầu tư quốc tế, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.