Việt Nam bán một loại hạt thu về 1,08 tỷ USD ngay tháng đầu năm: Đức - Nga - Tây Ban Nha 'mê không lối thoát'

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), dẫn số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam cho biết, tháng 1/2026 Việt Nam xuất khẩu 224,3 nghìn tấn cà phê, trị giá 1,08 tỷ USD. So với tháng 12/2025, lượng tăng 22,6%, trị giá tăng 14,1%; so với tháng 1/2025, tăng 56,4% về lượng và tăng 39,5% về trị giá.

Giá bình quân xuất khẩu đạt 4.820 USD/tấn, giảm 7% so với tháng trước và giảm 10,8% so với cùng kỳ năm 2025.

nganh-ca-phe-viet.pngTháng 1/2026 Việt Nam xuất khẩu 224,3 nghìn tấn cà phê, trị giá 1,08 tỷ USD - Ảnh minh họa


Thị trường tăng trưởng mạnh, Đức – Tây Ban Nha – Nga bứt tốc


Tháng 1/2026, xuất khẩu cà phê sang hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng đột biến về lượng như: Đức tăng 70,5%; Tây Ban Nha tăng 84,4%; Algeria tăng 296%; Nga tăng 82,1%.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu từ các thị trường truyền thống và mới nổi vẫn duy trì ở mức cao, bất chấp biến động giá quốc tế.

Trung Quốc tăng nhập khẩu, nhưng thị phần Việt Nam thu hẹp


Theo số liệu từ cơ quan Hải quan Trung Quốc, năm 2025 nước này nhập khẩu 273,1 nghìn tấn cà phê, trị giá 2,07 tỷ USD, tăng 15,8% về lượng và tăng 56,5% về trị giá so với năm 2024.

Giá nhập khẩu bình quân đạt 7.563 USD/tấn, tăng 35,1%. Riêng giá nhập khẩu từ Việt Nam đạt 6.298 USD/tấn, tăng 19,3%.

Về cơ cấu nguồn cung, Trung Quốc nhập khẩu cà phê từ 66 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, 5 nguồn cung lớn nhất gồm: Ethiopia, Brazil, Việt Nam, Colombia và Indonesia.

Ethiopia vươn lên dẫn đầu với 72,8 nghìn tấn, trị giá 494,9 triệu USD, tăng 348,3% về lượng và tăng 383% về trị giá; thị phần tăng từ 6,89% năm 2024 lên 26,65% năm 2025.

Brazil đứng thứ hai với 69,2 nghìn tấn, trị giá 506 triệu USD; lượng giảm 9,1% nhưng trị giá tăng 64,8%; thị phần giảm từ 32,27% xuống 25,32%.

Việt Nam đứng thứ ba với 36,1 nghìn tấn, trị giá 227,1 triệu USD; lượng giảm 11,2% nhưng trị giá tăng 6%. Thị phần giảm từ 17,21% xuống 13,20%.

Theo báo cáo của Grand View Research, quy mô thị trường cà phê Trung Quốc đạt khoảng 3,06 tỷ USD năm 2024 và dự báo tăng lên 4,47 tỷ USD vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng kép bình quân khoảng 6,5%/năm giai đoạn 2025–2030. Cà phê rang hiện chiếm doanh thu lớn nhất, trong khi cà phê hòa tan được dự báo tăng nhanh nhất.

Giá thế giới lao dốc, Robusta và Arabica cùng giảm sâu

Đầu tháng 2/2026, giá cà phê thế giới giảm mạnh do áp lực bán ra của các quỹ đầu tư và triển vọng nguồn cung cải thiện.

Theo dự báo của Conab, sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026–2027 ước đạt 66,2 triệu bao, tăng 17,1% so với niên vụ trước.

Ngày 9/2/2026: Trên sàn London, giá Robusta kỳ hạn tháng 3/2025 và 5/2025 giảm lần lượt 8,7% và 9,1% so với ngày 2/2, xuống 3.755 USD/tấn và 3.668 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá Arabica kỳ hạn tháng 3/2025 và 5/2025 giảm 10,7% và 8,3%, còn 296,55 Uscent/lb và 289,3 Uscent/lb.

Trên sàn BMF Brazil, giá Arabica kỳ hạn tháng 3/2025 và 5/2025 giảm 10,5% và 11,3%, còn 381,0 Uscent/lb và 368,15 Uscent/lb.

Tỷ giá và chính sách tiền tệ toàn cầu cũng tạo áp lực khi đồng USD mạnh lên khiến nông sản giao dịch bằng USD kém hấp dẫn hơn.

Giá Robusta nội địa giảm theo đà thế giới


Đầu tháng 2/2026, giá cà phê Robusta trong nước giảm 5.200–5.700 đồng/kg so với ngày 2/2. Tại Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Nông, giá ngày 9/2 dao động 94.600–96.000 đồng/kg tùy khu vực.

Giao dịch trên thị trường nội địa diễn ra trầm lắng do chênh lệch giá mua – bán còn lớn.