Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) dẫn số liệu của Cục Hải quan Việt Nam cho biết, trong tháng 12/2025, Việt Nam xuất khẩu được 13.844 tấn chè, đạt 23,88 triệu USD. So với tháng 11/2025, lượng xuất khẩu tăng 3%, song trị giá lại giảm 3,6%. Nếu so với cùng kỳ năm 2024, xuất khẩu chè ghi nhận mức tăng 5,3% về lượng và 9,6% về trị giá.
Giá bình quân xuất khẩu chè trong tháng 12/2025 đạt 1.725 USD/tấn, giảm 6,4% so với tháng trước nhưng tăng 4,02% so với cùng kỳ năm ngoái. Diễn biến này cho thấy áp lực giá vẫn hiện hữu, dù nhu cầu tại một số thị trường đã có dấu hiệu cải thiện.
Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 136.952 tấn chè, thu về 237,89 triệu USD - Ảnh minh họa
Tính chung cả năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 136.952 tấn chè, thu về 237,89 triệu USD, giảm 7,1% về lượng và 7,2% về trị giá so với năm 2024. Giá xuất khẩu bình quân cả năm đạt 1.737 USD/tấn, gần như đi ngang nhưng vẫn giảm nhẹ 0,1% so với năm trước.
Kết quả này phản ánh những khó khăn kéo dài của ngành chè trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, chi phí sản xuất tăng cao và yêu cầu chất lượng từ các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe.
Thị trường xuất khẩu phân hóa rõ nét
Trong tháng 12/2025, xuất khẩu chè của Việt Nam chứng kiến sự phân hóa mạnh giữa các thị trường. Pakistan tiếp tục là thị trường lớn nhất với 1.518 tấn, trị giá 2,51 triệu USD, tăng 31,1% về lượng và 23,6% về trị giá so với tháng trước.
Xuất khẩu sang Mỹ, Iraq và UAE cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực cả về lượng lẫn giá trị. Đặc biệt, xuất khẩu sang Indonesia bứt phá mạnh mẽ, tăng tới 160% về lượng và 100% về trị giá so với tháng 11/2025.
Ngược lại, nhiều thị trường tiềm năng khác lại sụt giảm, trong đó xuất khẩu sang Đài Loan (Trung Quốc) giảm 3,9% về lượng và 7,3% về trị giá. Các thị trường như Malaysia, Nga, Philippines cũng đồng loạt giảm cả lượng và kim ngạch.
Xét trong cả năm 2025, hai thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam là Pakistan và Đài Loan đều giảm về lượng. Về trị giá, xuất khẩu sang Pakistan giảm, trong khi xuất khẩu sang Đài Loan vẫn tăng.
Trong tháng 12/2025, xuất khẩu chè của Việt Nam chứng kiến sự phân hóa mạnh giữa các thị trường - Ảnh minh họa
Đáng chú ý, một số thị trường khác lại tăng trưởng ấn tượng cả về lượng và giá trị như Malaysia, Ấn Độ, Philippines và Iraq. Trong đó, Iraq là thị trường ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 51% về lượng và 49,8% về trị giá so với năm 2024.
Về cơ cấu thị trường, Pakistan vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 30,1% tổng lượng chè xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2025, song đã giảm đáng kể so với mức 35,2% của năm 2024. Thị trường Đài Loan duy trì ổn định ở mức 10,2%, trong khi thị phần tại các thị trường như Trung Quốc, Malaysia, Iraq và Ấn Độ có xu hướng tăng lên.
Năm 2026: Thời điểm then chốt để ngành chè “đổi chất”
Bước sang năm 2026, ngành chè Việt Nam được đánh giá đang đứng trước một giai đoạn chuyển mình quan trọng. Xuất khẩu chè không chỉ hướng tới tăng sản lượng, mà ngày càng chú trọng đến chất lượng, giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu.
Một trong những động lực lớn nhất đến từ sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng toàn cầu. Người tiêu dùng ngày càng ưu tiên các sản phẩm có lợi cho sức khỏe, nguồn gốc tự nhiên, canh tác bền vững và minh bạch thông tin. Các dòng sản phẩm như chè hữu cơ, chè đặc sản vùng miền, chè ít chế biến hay chè gắn với câu chuyện văn hóa đang tăng trưởng nhanh tại nhiều thị trường phát triển.
Trong đó, Đài Loan (Trung Quốc) được xem là thị trường tiềm năng lớn cho chè Việt Nam trong giai đoạn tới, nhờ nhu cầu cao đối với các dòng chè chất lượng, đặc sản và có giá trị thương hiệu.
Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè đứng thứ 5 thế giới. Sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt tại hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy vị thế ngày càng rõ nét trên bản đồ chè toàn cầu.
Về cơ cấu sản phẩm, Việt Nam hiện đã chế biến được khoảng 15 loại chè khác nhau, trong đó chè đen và chè xanh vẫn là hai dòng sản phẩm chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, quy mô vùng nguyên liệu đang có xu hướng thu hẹp. Thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho thấy, diện tích chè cả nước năm 2023 đạt hơn 122.000 ha, giảm khoảng 12.000 ha so với năm 2015. Việc sụt giảm diện tích phản ánh những thách thức trong tái canh, hiệu quả kinh tế và sự cạnh tranh từ các cây trồng khác.
Hiện nay, sản xuất chè của Việt Nam tập trung chủ yếu tại các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Lâm Đồng, Nghệ An, Yên Bái và Hà Giang – những địa phương có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp để phát triển cây chè.