Theo Báo cáo quản trị các ngân hàng tính đến cuối năm 2025 và đầu năm 2026, nhiều Chủ tịch HĐQT ngân hàng đang trực tiếp nắm giữ lượng lớn cổ phiếu tại tổ chức mình điều hành. Ngược lại, cũng có một số lãnh đạo hiện không nắm giữ bất kỳ cổ phiếu nào.

5 Chủ tịch ngân hàng không sở hữu cổ phiếu
Tính đến 31/12/2025, bà Phạm Thị Huyền Trang - Chủ tịch HĐQT Eximbank hiện không nắm giữ cổ phiếu EIB.
Tương tự, ông Đỗ Minh Phú - Chủ tịch TPBank cũng không sở hữu cổ phiếu TPB. Đây là trường hợp đáng chú ý bởi ông Đỗ Minh Phú là doanh nhân nổi tiếng trong lĩnh vực tài chính - vàng bạc, đồng thời có liên hệ mật thiết với hệ sinh thái cổ đông lớn tại ngân hàng này.
Tại Nam A Bank, Chủ tịch Trần Ngô Phúc Vũ cũng ghi nhận sở hữu 0 cổ phiếu NAB.
Trong khi đó, Chủ tịch KienlongBank Trần Ngọc Minh và Chủ tịch PGBank Cao Thị Thúy Nga hiện cũng không nắm giữ cổ phần tại ngân hàng mình điều hành.
Nhiều lãnh đạo ngân hàng sở hữu hàng trăm triệu cổ phiếu
Dẫn đầu về tỷ lệ sở hữu là ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch HĐQT VIB với hơn 167,46 triệu cổ phiếu, tương đương 4,92% vốn ngân hàng.
Xếp ngay sau là ông Trịnh Văn Tuấn - Chủ tịch HĐQT OCB khi nắm giữ hơn 118 triệu cổ phiếu, tương ứng 4,43% vốn điều lệ.
Tại VPBank, Chủ tịch HĐQT Ngô Chí Dũng sở hữu hơn 328,55 triệu cổ phiếu VPB, tương đương 4,14% vốn ngân hàng. Đây cũng là lãnh đạo có số lượng cổ phiếu nắm giữ lớn nhất trong nhóm khảo sát.
Ông Trần Hùng Huy - Chủ tịch ACB hiện nắm giữ hơn 176 triệu cổ phiếu, tương ứng 3,42% vốn điều lệ. Trong khi đó, ông Dương Công Minh - Chủ tịch Sacombank sở hữu hơn 62,56 triệu cổ phiếu STB, tương đương 3,32%.
Chủ tịch SHB Đỗ Quang Hiển đang nắm hơn 125,16 triệu cổ phiếu, tương ứng 2,72% vốn ngân hàng. Còn tại BVBank, ông Lê Anh Tài sở hữu gần 17,79 triệu cổ phiếu, tương ứng 2,77%.
Không sở hữu cổ phiếu có ý nghĩa gì?
Việc Chủ tịch ngân hàng không trực tiếp nắm giữ cổ phiếu không đồng nghĩa họ không có liên quan lợi ích tại ngân hàng. Trong nhiều trường hợp, cổ phần có thể được sở hữu thông qua người liên quan, tổ chức liên kết hoặc các pháp nhân khác.
Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu cá nhân của lãnh đạo cấp cao vẫn được xem là một chỉ dấu quan trọng, phản ánh mức độ gắn kết lợi ích giữa ban điều hành với hoạt động và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời, cơ cấu sở hữu tại mỗi nhà băng cũng cho thấy đặc thù quản trị riêng, đặc biệt ở những tổ chức có cổ đông lớn chi phối hoặc đang trong quá trình tái cơ cấu cổ đông.
Theo chuyên gia ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu, pháp luật Mỹ không bắt buộc ngân hàng phải có thành viên độc lập trong HĐQT. Dù vậy, nhiều ngân hàng tại Mỹ vẫn chủ động dành nhiều vị trí cho thành viên độc lập trong cơ quan này.
Tại Việt Nam, nhiều ngân hàng hiện chưa bầu đủ số lượng thành viên HĐQT độc lập theo quy định. Theo ông Hiếu, trong trường hợp một người có vị thế độc lập và gần như không nắm giữ cổ phần nhưng lại đảm nhiệm vị trí Chủ tịch HĐQT, vấn đề này cần được xem xét và nghiên cứu đầy đủ.
Ông cho rằng, thành viên HĐQT độc lập về bản chất không đại diện cho bất kỳ nhóm cổ đông nào, mà được xem là tiếng nói đại diện cho các cổ đông nhỏ lẻ, “thấp cổ bé họng”. Tuy nhiên, nếu một thành viên độc lập giữ vị trí Chủ tịch HĐQT thì sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể từ các nhóm cổ đông lớn có đại diện trong hội đồng quản trị. Khi đó, họ buộc phải dung hòa giữa vai trò độc lập với mối quan hệ và lợi ích của các cổ đông chiến lược, cổ đông lớn.
Theo chuyên gia này, thực tế tại Việt Nam, Chủ tịch HĐQT là vị trí có quyền lực rất lớn trong ngân hàng. Vì vậy, rất khó để một thành viên độc lập có thể thực hiện đầy đủ vai trò của mình. Dù mang tư cách độc lập, họ cũng khó sử dụng quyền lực cao nhất để phản đối những quyết định bị cho là chưa hợp lý hoặc không phù hợp từ các thành viên khác trong HĐQT.