Một số doanh nghiệp lớn trên thị trường chứng khoán đang ghi nhận tình trạng cơ cấu cổ đông tập trung, trong đó tỷ lệ cổ phiếu do nhóm cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ ở mức thấp so với tiêu chí tại Luật Chứng khoán. Đây là vấn đề được thị trường quan tâm trong bối cảnh các quy định sửa đổi về điều kiện công ty đại chúng bắt đầu có hiệu lực.
Theo điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 11 Điều 1 Luật số 56/2024/QH15 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, công ty đại chúng phải có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 32 cũng quy định rõ rằng doanh nghiệp chỉ phải thực hiện thủ tục đề nghị hủy tư cách công ty đại chúng sau 01 năm kể từ thời điểm không còn đáp ứng điều kiện nêu trên, nếu vẫn không khắc phục được.
Theo đó, việc cơ cấu cổ đông tập trung không đồng nghĩa với hệ quả pháp lý phát sinh ngay, và việc hủy tư cách công ty đại chúng chỉ được xem xét sau khi hết thời hạn theo quy định. Khi doanh nghiệp chính thức bị hủy tư cách công ty đại chúng, cổ phiếu mới không còn đủ điều kiện niêm yết trên HOSE, HNX hoặc giao dịch trên UPCoM.
Trong thời gian gần đây, một số doanh nghiệp đã chủ động công bố thông tin liên quan đến việc rà soát điều kiện công ty đại chúng. PV GAS (mã GAS) cho biết, theo danh sách cổ đông chốt ngày 29/8/2025, cổ đông lớn là PVN nắm 95,76% số cổ phiếu có quyền biểu quyết, trong khi phần còn lại 4,24% thuộc về gần 17.500 cổ đông khác.
Tình trạng tương tự được ghi nhận tại PV GAS D (mã PGD), nơi ba cổ đông lớn nắm 96,5% vốn điều lệ. Trước đó, VIMICO (mã KSV) cũng thông báo đang rà soát điều kiện cơ cấu cổ đông khi cổ đông Nhà nước nắm 98,1% vốn điều lệ và cho biết đang làm việc với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo trình tự pháp lý.
Đáng chú ý, ngân hàng thương mại nhà nước là trường hợp có đặc thù pháp lý riêng, trong đó có Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Hiện nay, cơ cấu cổ đông của BIDV cho thấy Nhà nước nắm 79,7% vốn điều lệ, cổ đông chiến lược nước ngoài nắm 14,8%, phần còn lại do các cổ đông khác nắm giữ ở mức thấp hơn tiêu chí 10% theo Luật Chứng khoán.
Việc xem xét các quy định về công ty đại chúng đối với BIDV cần được đặt trong khuôn khổ Luật Các tổ chức tín dụng số 96/2025/QH15. Luật này xác định ngân hàng thương mại nhà nước là ngân hàng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; quyền chủ sở hữu vốn Nhà nước tại ngân hàng thương mại nhà nước do Chính phủ thực hiện và phân công cơ quan đại diện theo quy định. Các vấn đề liên quan đến cơ cấu sở hữu được xem xét trong khuôn khổ thẩm quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Song song đó, Luật Quản lý và đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/8/2025, quy định việc đầu tư, quản lý và sử dụng vốn Nhà nước được thực hiện theo chiến lược, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc thoái vốn Nhà nước, nếu được xem xét, được thực hiện theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu trên cơ sở các nguyên tắc này.
Đáng chú ý, khoản 7 Điều 59 Luật 68/2025/QH15 quy định rằng trong thời gian thực hiện kế hoạch cơ cấu lại đã được phê duyệt, doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần đang niêm yết hoặc đăng ký giao dịch, dù chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện công ty đại chúng theo Luật Chứng khoán, không bị áp dụng hệ quả hủy tư cách công ty đại chúng.
Trong khi đó, BIDV tiếp tục duy trì hoạt động ổn định với vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực. Tính đến hết tháng 11/2025, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế hơn 29.000 tỷ đồng; tổng tài sản trên 3,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với đầu năm; dư nợ tín dụng gần 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 13,7%; huy động vốn vượt 2,3 triệu tỷ đồng. BIDV cũng ghi nhận dư nợ tín dụng xanh hơn 81.200 tỷ đồng và phục vụ trên 22 triệu khách hàng cá nhân cùng hơn 500.000 doanh nghiệp.
Cơ cấu cổ đông BIDV tại ngày 30/9/2025. (Ảnh: BIDV)Theo các quy định pháp luật hiện hành, việc xem xét điều chỉnh tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại BIDV, nếu đặt ra, được thực hiện trong khuôn khổ thẩm quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước và theo các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định. Việc chưa đáp ứng tiêu chí cơ cấu cổ đông theo Luật Chứng khoán là một nội dung cần được đánh giá trong tổng thể khung pháp lý liên quan, không phát sinh hệ quả pháp lý tự động.