Từ vài nghìn lên hàng triệu USD: Loại quả này của Việt Nam 'tăng tốc' gấp 2.000 lần, vượt xa nhiều loại trái cây quen mặt

Dữ liệu hải quan cho thấy xuất khẩu dâu tây của Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc chỉ trong vài năm. Nếu như năm 2021, kim ngạch chỉ đạt khoảng 6.000 USD ở quy mô nhỏ lẻ, thì đến năm 2025 con số này đã vọt lên 1,74 triệu USD. Đáng chú ý, chỉ trong 2 tháng đầu năm nay, giá trị xuất khẩu đã chạm mốc 3,4 triệu USD, gấp đôi cả năm trước đó.

So với cùng kỳ, mức tăng trưởng lên tới hơn 200.000% (tương đương khoảng 2.000 lần) cao nhất trong nhóm rau quả, dù tỷ trọng vẫn còn khiêm tốn, chỉ khoảng 0,34%. Trong bối cảnh ngành rau quả duy trì đà tăng trưởng, sự bứt phá của dâu tây cho thấy xu hướng chuyển dịch sang các mặt hàng có giá trị cao, thay vì phụ thuộc vào các sản phẩm sản lượng lớn như sầu riêng, thanh long hay chuối.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, dâu tây Việt Nam hiện đã có mặt tại nhiều thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Thái Lan, EU và Trung Đông. Tuy nhiên, phần lớn kim ngạch vẫn đến từ các sản phẩm chế biến như cấp đông, sấy lạnh hoặc làm nguyên liệu, trong khi dâu tây tươi còn chiếm tỷ trọng nhỏ do yêu cầu khắt khe về bảo quản và vận chuyển.

img-6315-1-1859.jpgDâu tây Việt Nam đang được mở rộng diện tích trồng và đẩy mạnh chế biến, xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế.

“Đây là mặt hàng có tiềm năng lớn, đặc biệt nếu nâng cao được chất lượng và công nghệ bảo quản”, ông Nguyên nhận định.

Hiện nay, dâu tây đạt chuẩn GlobalGAP đã được trồng phổ biến tại hai vùng trọng điểm là Đà Lạt (Lâm Đồng) và Sơn La. Diện tích canh tác tăng nhanh trong những năm gần đây, hình thành các vùng chuyên canh rõ rệt. Sơn La nổi lên là điểm sáng với hơn 600 ha tại Mai Sơn và Mộc Châu, sản lượng trên 10.000 tấn mỗi năm. Trong khi đó, Lâm Đồng có hơn 170 ha, chủ yếu theo hướng nông nghiệp công nghệ cao. Một số địa phương như Hà Nội cũng bắt đầu thử nghiệm mô hình trang trại thông minh.

Việc mở rộng diện tích, kết hợp với ứng dụng giống mới, nhà kính, tưới nhỏ giọt và kỹ thuật trồng rải vụ giúp sản lượng tăng nhanh. Tuy nhiên, đầu ra vẫn là bài toán lớn khi thị trường tiêu thụ chưa theo kịp tốc độ gia tăng nguồn cung.

Ông Nguyễn Xuân Nam cho biết hợp tác xã hiện có 17 thành viên, canh tác khoảng 50 ha dâu tây, trong đó 23 ha trồng rải vụ, với sản lượng trung bình 1.250 tấn mỗi năm, toàn bộ đạt tiêu chuẩn VietGAP. Đơn vị cũng đã đầu tư cơ sở cấp đông tại vùng trồng và kho tại Hà Nội để phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu. Sản phẩm cấp đông được dùng làm nguyên liệu chế biến như rượu, siro, sấy dẻo, cung cấp cho thị trường TP.HCM và xuất khẩu sang Nga, Thái Lan.

Tuy nhiên, theo ông Nam, năm nay nguồn cung tăng mạnh trong khi sức mua nội địa chậm, xuất khẩu vẫn ở quy mô nhỏ khiến giá giảm, nhiều hộ trồng thậm chí thua lỗ. “Nếu mở rộng được xuất khẩu với mức giá ổn định, người trồng sẽ bớt bấp bênh hơn”, ông nói, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chính sách hỗ trợ đầu tư vào công nghệ bảo quản.

Trên thị trường quốc tế, dâu tây là mặt hàng có giá trị cao nhưng không cạnh tranh bằng sản lượng. Chẳng hạn, Hàn Quốc mỗi năm chỉ xuất khẩu vài chục triệu USD dâu tây nhưng vẫn được đánh giá là ngành hàng giá trị nhờ tập trung vào chất lượng.

Với Việt Nam, lợi thế nằm ở chi phí sản xuất thấp và chất lượng ngày càng cải thiện nhờ áp dụng tiêu chuẩn và công nghệ canh tác. Điều này mở ra cơ hội tiếp cận phân khúc trung cấp – nơi yêu cầu chất lượng tốt với mức giá hợp lý, đặc biệt tại khu vực châu Á.

Theo ông Nguyên, từ mức vài nghìn USD cách đây vài năm lên hàng triệu USD hiện nay, dâu tây đang dần khẳng định tiềm năng trở thành một ngành hàng mới của nông nghiệp Việt Nam. Dù chưa thể mở rộng quy mô lớn trong ngắn hạn, đây vẫn là nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần đa dạng hóa xuất khẩu và giảm phụ thuộc vào các mặt hàng truyền thống.

“Nếu giải được bài toán bảo quản, logistics và mở rộng thị trường, dâu tây hoàn toàn có thể trở thành một ‘ngách’ xuất khẩu giá trị cao, nơi nông sản Việt cạnh tranh bằng chất lượng thay vì sản lượng”, ông nhấn mạnh.