Sau chỉ đạo gấp từ Chính phủ, ngân hàng nào hưởng lợi khi room tín dụng và trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cùng được nới?

Từ room tín dụng đến trần 40%: Dòng vốn dự án có thêm dư địa

Yêu cầu xử lý gấp từ Chính phủ đưa vấn đề tín dụng ngân hàng vượt khỏi phạm vi nới hạn mức tăng trưởng tín dụng thông thường. Trọng tâm không chỉ nằm ở dư địa tăng dư nợ của từng ngân hàng, mà còn ở khả năng cấp vốn cho doanh nghiệp, tổ chức và các dự án quy mô lớn.

Các dự án hạ tầng, năng lượng, khu công nghiệp, logistics, nhà ở xã hội hoặc bất động sản dự án thường đòi hỏi nguồn vốn nhiều năm, giải ngân theo tiến độ và có quy mô khoản vay lớn. Nếu một số khoản vay đủ điều kiện được loại khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng (room tín dụng), ngân hàng có thêm dư địa duy trì dòng vốn cho dự án mà không bị giới hạn sớm bởi trần tăng trưởng hằng năm.

Dư địa thứ hai nằm ở tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn. Trần tỷ lệ này từng ở mức 60% năm 2016, sau đó giảm về 50%, 45%, 40%, 37%, 34% và còn 30% từ ngày 1/10/2023. Nếu được nâng lại lên 40%, khoảng đệm kỹ thuật tăng thêm 10 điểm phần trăm, tương đương mức nới 33,3% so với trần hiện hành.

Hai cơ chế trên tác động vào hai vị trí khác nhau trên bảng cân đối ngân hàng. Room tín dụng kiểm soát tốc độ tăng dư nợ, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn kiểm soát mức độ cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản. Do đó, tác động thực tế phụ thuộc vào quy mô giải ngân, khả năng duy trì nguồn vốn, vốn chủ sở hữu và chất lượng danh mục cho vay.

Sau chỉ đạo gấp từ Chính phủ, ngân hàng nào hưởng lợi khi room tín dụng và trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cùng được nới? - Ảnh 1.Quy mô tín dụng, tiền gửi và nền vốn của 27 ngân hàng niêm yết

Ở phía thanh khoản, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước đang tiến gần ngưỡng tối đa. Theo Ngân hàng Nhà nước, tại ngày 31/3, LDR của VietinBank, BIDV, Vietcombank và Agribank lần lượt là 83,48%, 82,94%, 84,54% và 83,28%, gần ngưỡng tối đa 85% nhưng chưa ngân hàng nào vượt mốc này.

Trong điều hành tín dụng, cơ chế loại trừ có điều kiện đã từng được áp dụng. Công văn 4551/NHNN-CSTT của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép loại trừ phần dư nợ tăng thêm của một số khoản vay phục vụ nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản trong năm nay. Quyết định 09/2024/QĐ-TTg cũng tạo khuôn khổ cho việc đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn đối với tổ chức tín dụng (TCTD).

Vietcombank giữ lợi thế cân bằng, Techcombank nhạy hơn với tín dụng dài hạn

Vietcombank có quy mô tín dụng lớn, nguồn vốn rộng và chất lượng tài sản ổn định. Cuối quý I, dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.754.926 tỷ đồng, tăng 4,86% so với quý trước và 19,68% so với cùng kỳ. Riêng trong quý, dư nợ tăng thêm 81.401 tỷ đồng. Cho vay trung dài hạn đạt 742.430 tỷ đồng, chiếm 42,31% tổng dư nợ.

Quy mô tuyệt đối giúp Vietcombank có khả năng chuyển thay đổi về room tín dụng hoặc vốn trung dài hạn thành tăng trưởng tài sản sinh lời. Tiền gửi khách hàng đạt 1.682.032 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 234.031 tỷ đồng, tương đương 13,34% dư nợ cho vay. Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của Vietcombank tại ngày 31/3 ở mức 84,54%, dưới ngưỡng tối đa 85%.

Các chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro tiếp tục cho thấy trạng thái cân bằng của Vietcombank. Thu nhập lãi thuần (NII) đạt 17.651 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 11.803 tỷ đồng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm hóa khoảng 16,51% và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) khoảng 1,52%. Tỷ lệ nợ xấu ở mức khoảng 0,62%, nợ nhóm 2 khoảng 0,23% và chi phí tín dụng năm hóa khoảng 0,58%.

Techcombank nổi bật ở cấu trúc tín dụng trung dài hạn. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 796.864 tỷ đồng, tăng 3,81% so với quý trước và 20,07% so với cùng kỳ. Cho vay trung dài hạn đạt 497.070 tỷ đồng, chiếm 62,38% tổng dư nợ, cao hơn đáng kể so với Vietcombank. Vốn chủ sở hữu đạt 186.683 tỷ đồng, tương đương 23,43% dư nợ cho vay.

Tại ngày 31/3, Techcombank công bố tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức 26,9%, thấp hơn trần 30%; LDR riêng lẻ theo báo cáo quản lý đạt 80,5%. Với tỷ trọng tín dụng trung dài hạn cao và nền vốn lớn, ngân hàng này có độ nhạy cao hơn với thay đổi về trần vốn trung dài hạn.

Mức độ sát trần 30% có sự phân hóa giữa các ngân hàng công bố trực tiếp tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. VPBank ở mức 28,3%, Techcombank 26,9%, MSB 25,8%, VietinBank 25,7%, VIB 25%, ACB khoảng 24,9% và HDBank khoảng 22,9%. Nhóm có tỷ lệ cao hơn nhạy hơn với thay đổi trần, trong khi nhóm có tỷ lệ thấp hơn còn thêm dư địa gắn tín dụng với mở rộng nguồn vốn.

Sau chỉ đạo gấp từ Chính phủ, ngân hàng nào hưởng lợi khi room tín dụng và trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cùng được nới? - Ảnh 2.Mức độ sát trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn

Tăng trưởng tín dụng mở rộng, quản trị rủi ro đi cùng

MB, HDBank, SHB và VPBank thể hiện các trạng thái khác nhau khi đặt tăng trưởng tín dụng cạnh nguồn vốn và chất lượng tài sản. MB có quy mô tín dụng lớn và khả năng tạo lợi nhuận tốt. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.120.563 tỷ đồng, tăng 3,37% so với quý trước và 40,5% so với cùng kỳ. Cho vay doanh nghiệp và tổ chức kinh tế (TCKT) đạt 644.774 tỷ đồng, tương đương 57,54% tổng dư nợ; nhóm ngành có tính dự án chiếm khoảng 66,52%.

Các chỉ tiêu lợi nhuận của MB phản ánh đóng góp từ quy mô dư nợ lớn. NII đạt 14.913 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 9.628 tỷ đồng, ROE năm hóa đạt 21,12%. Nợ xấu ở mức 1,42% và chi phí tín dụng năm hóa khoảng 1,25%, cho thấy chất lượng tín dụng là biến số đi cùng tăng trưởng.

HDBank ghi nhận tín dụng và tiền gửi cùng tăng. Dư nợ tăng 10,02% so với quý trước và 34,75% so với cùng kỳ. Tiền gửi khách hàng tăng 10,85% so với quý trước và 33,57% so với cùng kỳ. ROE năm hóa đạt 24,29%. Nợ nhóm 2 khoảng 2,58% và nợ xấu 2,6%, phản ánh trạng thái danh mục tín dụng trong giai đoạn mở rộng dư nợ.

SHB có độ nhạy cao với tín dụng dự án do cơ cấu dư nợ nghiêng nhiều hơn về cho vay trung dài hạn và khách hàng doanh nghiệp. Cho vay trung dài hạn đạt 409.575 tỷ đồng, chiếm 65,2% tổng dư nợ. Cho vay doanh nghiệp và TCKT chiếm 83,03%, trong khi nhóm ngành có tính dự án chiếm 81,08%. Cấu trúc này làm tăng mức độ liên quan của SHB với các thay đổi về room tín dụng dự án và trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn.

Sau chỉ đạo gấp từ Chính phủ, ngân hàng nào hưởng lợi khi room tín dụng và trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cùng được nới? - Ảnh 3.Tín dụng dài hạn và chất lượng danh mục của 27 ngân hàng niêm yết

VPBank có tốc độ tăng trưởng cao và biên lãi rộng. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.040.917 tỷ đồng, tăng 10,28% so với quý trước và 42,6% so với cùng kỳ. NII đạt 16.961 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 7.921 tỷ đồng, biên lãi khoảng 5,37%. Ngân hàng công bố tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn 28,3% và LDR 82,7% tại cuối quý I, vẫn trong giới hạn quản lý.

Các chỉ tiêu chất lượng tài sản của VPBank gồm nợ xấu khoảng 3,58%, nợ nhóm 2 khoảng 3,11% và chi phí tín dụng năm hóa khoảng 3,09%. Do đó, lợi ích từ tăng trưởng tín dụng gắn thêm với khả năng duy trì chất lượng danh mục và kiểm soát chi phí dự phòng.

Cơ chế mới có thể hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và NII, nhưng các khoản vay vẫn nằm trên bảng cân đối của ngân hàng. Tín dụng tăng nhanh hơn vốn tự có sẽ tác động đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Cho vay trung dài hạn tăng nhanh hơn nguồn vốn ổn định có thể làm tăng nhu cầu huy động kỳ hạn dài, phát hành giấy tờ có giá hoặc quản lý chi phí vốn chặt chẽ hơn.

Khi room tín dụng và trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cùng được nới, sự phân hóa nằm ở khả năng kết hợp giữa tăng trưởng dư nợ, nguồn vốn, nền vốn và chất lượng tài sản. Vietcombank thể hiện trạng thái cân bằng, Techcombank nhạy hơn với tín dụng dài hạn, MB và HDBank có lợi thế về tăng trưởng, SHB liên quan nhiều hơn đến tín dụng dự án, còn VPBank nổi bật ở tốc độ tăng dư nợ và biên lãi thuần.