Kích hoạt hoán đổi ngoại tệ 1 tỷ USD: Lời giải khi lãi suất liên ngân hàng áp sát 8% mùa chốt sổ

Lãi suất qua đêm hạ về 3%, kỳ hạn 1 tuần vẫn neo gần 8%

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng cuối tháng 6 ghi nhận sự phân hóa giữa lãi suất qua đêm và các kỳ hạn dài hơn. Đến ngày 26/6, lãi suất tham chiếu liên ngân hàng Việt Nam bằng đồng Việt Nam (VNIBOR VND) qua đêm (O/N) giảm về 3%/năm, trong khi kỳ hạn 1 tuần ở mức 7,9%/năm, tăng 2,4 điểm phần trăm so với tuần trước.

Mặt bằng lãi suất ở các kỳ hạn còn lại vẫn ở mức cao. VNIBOR VND kỳ hạn 2 tuần ở 7,85%/năm, 1 tháng ở 7,2%/năm, 2 tháng ở 7,95%/năm và 3 tháng ở 8,15%/năm. Chênh lệch 4,9 điểm phần trăm giữa kỳ hạn 1 tuần và O/N cho thấy áp lực thanh khoản đã chuyển từ nhu cầu vốn trong ngày sang nhu cầu vốn có kỳ hạn.

Lãi suất liên ngân hàng lên gần 8% trước thềm khóa sổ quý II: Động thái điều tiết 1 tỷ USD của NHNN - Ảnh 1.VNIBOR VND kỳ hạn 1 tuần lên 7,9%/năm, cao hơn O/N 4,9 điểm phần trăm trước kỳ khóa sổ quý II - Nguồn: VIRA

Diễn biến này khác với nhịp căng thanh khoản đầu tháng, khi lãi suất O/N từng lên quanh 11%/năm. Đến cuối tháng, áp lực tập trung nhiều hơn ở kỳ hạn 1 tuần, do các khoản vay phát sinh trong giai đoạn 29–30/6 bao trùm thời điểm khóa sổ quý II.

Yếu tố thời điểm cuối quý cũng góp phần làm rõ sự dịch chuyển này. Trước chu kỳ khóa sổ báo cáo, các ngân hàng thường có nhu cầu cân đối thanh khoản, trạng thái vốn và các tỷ lệ an toàn. Bên dư vốn có xu hướng giữ lại VND, trong khi bên cần vốn ưu tiên khóa nguồn dài hơn qua đêm để hạn chế việc phải quay vòng liên tục trong những ngày sát kỳ báo cáo.

Ở chiều lãi suất đô la Mỹ (USD) liên ngân hàng, diễn biến ổn định hơn so với VND. Ngày 26/6, lãi suất USD qua đêm ở mức 3,66%/năm, 1 tuần 3,7%/năm, 2 tuần 3,75%/năm và 1 tháng 3,82%/năm. Sự khác biệt giữa VND và USD cho thấy áp lực chủ yếu nằm ở nhu cầu VND có kỳ hạn, trong khi mặt bằng lãi suất USD ngắn hạn ít biến động hơn.

Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ 1 tỷ USD mở thêm kênh bổ sung VND có thời hạn

Trong bối cảnh VNIBOR VND kỳ hạn 1 tuần neo ở mức cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mở nghiệp vụ hoán đổi USD/VND với các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong ngày 29/6. Giao dịch có kỳ hạn 7 ngày, ngày giá trị T+1 (ngày làm việc kế tiếp), tương ứng ngày 30/6.

Cấu trúc nghiệp vụ gồm NHNN mua USD giao ngay và bán USD kỳ hạn. Quy mô tối đa là 1 tỷ USD; mỗi TCTD được đăng ký tối đa 80% tổng khối lượng công bố.

Với tỷ giá mua giao ngay 23.991 VND/USD, kênh hoán đổi có thể đưa khoảng 23.991 tỷ đồng vào hệ thống nếu sử dụng hết hạn mức. Sau 7 ngày, các ngân hàng hoàn trả khoảng 23.997 tỷ đồng để mua lại USD. Phần chênh 6 đồng/USD tương đương khoảng 6 tỷ đồng trên quy mô 1 tỷ USD, quy đổi khoảng 1,3%/năm.

Khi cộng thêm lãi suất USD liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần quanh 3,7%/năm, chi phí VND ngầm định qua kênh này vào khoảng 5%/năm. Mức này thấp hơn khoảng 2,9 điểm phần trăm so với VNIBOR VND kỳ hạn 1 tuần trên thị trường liên ngân hàng.

Chiều giao dịch cho thấy trọng tâm của nghiệp vụ thiên về bổ sung VND có thời hạn hơn là bán USD giao ngay để can thiệp tỷ giá. NHNN mua USD trước, đưa VND ra hệ thống, sau đó bán lại USD kỳ hạn sau 7 ngày. Dòng vốn vì vậy có thời hạn, có USD đối ứng và tự đảo chiều khi hợp đồng đáo hạn.

Thanh khoản liên ngân hàng còn chịu sức ép trước kỳ khóa sổ quý II

Số dư tài khoản thanh toán qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (Citad) đến ngày 26/6 ở khoảng 400.000 tỷ đồng. Đây là một chỉ báo về lượng tiền thanh toán tại NHNN; còn mặt bằng lãi suất ở từng kỳ hạn phụ thuộc thêm vào mức độ sẵn sàng cho vay trên thị trường liên ngân hàng.

Giá vốn còn chịu ảnh hưởng bởi vị trí phân bổ dòng tiền, nhu cầu giữ thanh khoản của từng ngân hàng và thời hạn của khoản vay. Trong giai đoạn cuối quý, một phần nguồn vốn có thể được giữ lại để phục vụ cân đối báo cáo, trong khi các thành viên cần vốn qua ngày 30/6 phải trả chi phí cao hơn để khóa nguồn.

Kênh nghiệp vụ thị trường mở (OMO) cũng đã hỗ trợ thanh khoản trước đó. Trong tuần 22–26/6, NHNN chào thầu 35.000 tỷ đồng qua cầm cố giấy tờ có giá ở các kỳ hạn 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Khối lượng trúng thầu đạt 30.961 tỷ đồng, trong khi 27.000 tỷ đồng đáo hạn.

Sau các giao dịch này, NHNN bơm ròng 3.961 tỷ đồng qua OMO, đưa dư nợ cầm cố lưu hành lên khoảng 229.652 tỷ đồng. Tuy nhiên, kênh cầm cố phụ thuộc vào giấy tờ có giá đủ chuẩn, hạn mức và nhu cầu của từng TCTD.

Lãi suất liên ngân hàng lên gần 8% trước thềm khóa sổ quý II: Động thái điều tiết 1 tỷ USD của NHNN - Ảnh 2.NHNN bơm ròng 3.961 tỷ đồng qua thị trường mở, dư nợ cầm cố lưu hành gần 229.652 tỷ đồng - Nguồn: VIRA

Trong bối cảnh đó, hoán đổi ngoại tệ bổ sung thêm một kênh cung VND cho các ngân hàng có nguồn USD. Nếu sử dụng hết quy mô 1 tỷ USD, nghiệp vụ này có thể đưa gần 24.000 tỷ đồng vào hệ thống trong 7 ngày, trùng với giai đoạn cân đối thanh khoản cuối quý.

Với chi phí VND ngầm định quanh 5%/năm, kênh hoán đổi tạo thêm một mức tham chiếu thấp hơn mặt bằng 7,9%/năm của kỳ hạn 1 tuần. Các ngân hàng thiếu VND có thêm lựa chọn vốn, trong khi nhóm dư VND có thể giảm động lực giữ thanh khoản để chờ giá vốn tăng thêm.

Giao dịch có ngày giá trị 30/6 và kỳ hạn 7 ngày, nên dòng VND đi vào đúng thời điểm hệ thống cần cân đối thanh khoản cuối quý II. Nghiệp vụ này có thể góp phần bổ sung nguồn cung vốn ngắn hạn, giảm áp lực chi phí ở kỳ hạn 1 tuần và hạn chế trạng thái giữ thanh khoản quá mức; dòng tiền sẽ đảo chiều khi hợp đồng đáo hạn.