Bộ đệm thanh khoản mỏng dần, tín dụng tăng nhanh: Áp lực nào cho hệ thống ngân hàng năm 2026?

Tín dụng tăng 17%/năm và mức đòn bẩy khu vực tư nhân

Moody’s dự báo môi trường vĩ mô năm 2026 tiếp tục hỗ trợ hoạt động ngân hàng, với tăng trưởng kinh tế dựa trên tiêu dùng trong nước, dòng khách du lịch phục hồi và giải ngân đầu tư công tăng lên.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được đánh giá duy trì nhờ triển vọng tăng trưởng và sức hấp dẫn của Việt Nam trong bối cảnh xu hướng dịch chuyển vốn khỏi một số nền kinh tế ASEAN khác vẫn diễn ra.

Lãi suất điều hành nhiều khả năng được giữ ở vùng nới lỏng tương đối khi lạm phát được kỳ vọng nằm trong mục tiêu của NHNN.

Trong bối cảnh này, dư nợ cho vay của các ngân hàng được Moody’s xếp hạng tăng bình quân khoảng 17% mỗi năm trong hai năm gần nhất. Tỷ lệ dư nợ toàn hệ thống trên GDP trong nước tăng đều giai đoạn 2020–2025 và được ước tính cao hơn trong năm 2025, phản ánh mức độ sử dụng tín dụng ngày càng lớn trong nền kinh tế.

Moody’s cho biết tăng trưởng tín dụng vừa hỗ trợ hoạt động kinh tế, vừa làm tăng mức độ đòn bẩy tài chính của khu vực tư nhân.

Đối với lĩnh vực bất động sản, Moody’s ghi nhận rủi ro có xu hướng giảm khi các yếu tố cơ bản của thị trường cải thiện, qua đó hỗ trợ khả năng trả nợ của các nhà phát triển dự án. Mức độ tiếp xúc tín dụng của ngân hàng với lĩnh vực này tăng trong năm 2025.

Trong bối cảnh đó, Chỉ thị tháng 1/2026 của NHNN về kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản được nêu như một bước nhằm hạn chế tích tụ thêm rủi ro tập trung.

Lợi nhuận ngân hàng và yêu cầu nâng chuẩn vốn

Về chất lượng tài sản, Moody’s ghi nhận nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam giữ quanh mức 2% trong giai đoạn từ năm 2023 đến hết tháng 9/2025, trên cơ sở bao gồm các khoản nợ nhóm 3–5 và trái phiếu xử lý nợ xấu. Chi phí dự phòng ròng, đo bằng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ, duy trì quanh mức 1%. Chỉ tiêu này giảm từ 1,3% năm 2021 xuống 0,8% năm 2024 rồi tăng trở lại 1% trong nửa đầu 2025.

Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu của các ngân hàng được xếp hạng đạt 104,6% vào ngày 30/6/2025, giảm đều so với các mức 178,7% năm 2021, 167,8% năm 2022, 127,9% năm 2023 và 119,8% năm 2024. Moody’s cho biết tỷ lệ bao phủ của phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân ở dưới mức bình quân này.

unnamed.pngTriển vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2026 theo Moody’s Ratings.

Về vốn, báo cáo ghi nhận tốc độ tăng tài sản có rủi ro tiếp tục tạo sức ép lên chỉ tiêu an toàn vốn. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của các ngân hàng được xếp hạng tăng từ 7,5% năm 2021 lên 8,3% năm 2024, sau đó ở mức 8,1% vào ngày 30/6/2025. Trong khi đó, tỷ lệ vốn chủ hữu hình trên tài sản có rủi ro (TCE/RWA) tăng từ 7,7% năm 2021 lên 9,4% năm 2024 rồi đạt 9,3% trong nửa đầu 2025.

Moody’s cho rằng chuỗi số liệu này phản ánh tác động từ việc điều chỉnh hệ số rủi ro cho một số lĩnh vực và tối ưu hóa cơ cấu tài sản có rủi ro, trong bối cảnh mức độ an toàn vốn của hệ thống vẫn thấp hơn một số thị trường trong khu vực.

Trên cơ sở đó, báo cáo dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục giữ lại một phần đáng kể lợi nhuận và điều chỉnh tốc độ tăng tài sản có rủi ro trong những năm tới nhằm đáp ứng yêu cầu vốn cao hơn theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN, có hiệu lực bắt buộc từ ngày 1/1/2030.

Moody’s nêu việc duy trì chính sách cổ tức thận trọng và tối ưu hóa tài sản có rủi ro là định hướng chủ yếu trong giai đoạn chuyển tiếp, qua đó tăng vai trò của lợi nhuận giữ lại trong việc bổ sung bộ đệm vốn.

Về lợi nhuận, Moody’s dự báo tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) của hệ thống ở quanh mức 1,5% trong năm 2026. Dữ liệu lịch sử cho thấy ROA ở mức 1,3% năm 2021, 1,5% năm 2022 và 1,4% trong các năm 2023–2024 cũng như nửa đầu 2025.

Biên lãi ròng (NIM) tăng từ 3,6% năm 2021 lên 3,8% năm 2022, sau đó giảm còn 3,4% trong hai năm 2023–2024 và 3,1% trong nửa đầu 2025 trong bối cảnh chi phí vốn tăng và dư địa nâng lãi suất cho vay thu hẹp.

Thu nhập ngoài lãi tiếp tục đến từ các khoản lãi liên quan tới thị trường và nguồn thu phí dịch vụ, trong khi chi phí tín dụng ròng được giữ ổn định nhờ hoạt động thu hồi nợ xấu.

Hiệu quả hoạt động được thể hiện qua tỷ lệ chi phí trên thu nhập giảm từ 38,4% năm 2021 xuống 36,5% năm 2022, 37,9% năm 2023, 36,9% năm 2024 và 33,4% trong nửa đầu 2025. Biên lợi nhuận trước dự phòng trên tài sản có rủi ro duy trì quanh mức 2,9%–3% trong giai đoạn từ năm 2021 đến nửa đầu 2025.

Bộ đệm HQLA mỏng dần, LDR tăng nhanh và áp lực huy động vốn – thanh khoản

Moody’s đánh giá áp lực huy động vốn có xu hướng tăng trong bối cảnh tín dụng duy trì mức tăng cao. Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) được dự báo tiếp tục mở rộng trong năm 2026, dựa trên chuỗi số liệu giai đoạn 2021–9/2025 cho thấy tăng trưởng tín dụng hầu như luôn cao hơn tăng trưởng tiền gửi.

Hoạt động cho vay do đó sử dụng ngày càng nhiều hơn nguồn vốn huy động sẵn có, làm khoảng an toàn thanh khoản trên bảng cân đối thu hẹp dần.

Cùng với diễn biến này, cấu trúc nguồn vốn chuyển dịch theo hướng phụ thuộc nhiều hơn vào các kênh vốn nhạy cảm với thị trường. Tiền gửi vẫn là nguồn vốn chủ đạo nhưng tỷ trọng trong tổng nguồn vốn giảm từ 77% năm 2021 xuống 73% năm 2022, tăng lên 76% năm 2023 rồi giảm còn 73% năm 2024 và 72% vào giữa năm 2025.

Vốn liên ngân hàng chiếm khoảng 12% năm 2021 và tăng lên 13%–14% trong giai đoạn 2022–nửa đầu 2025. Trái phiếu và các giấy tờ có giá khác tăng tỷ trọng từ 7% lên 9% trong cùng thời kỳ, phản ánh mức sử dụng cao hơn của vốn thị trường ngắn hạn và công cụ nợ.

Các chỉ tiêu thanh khoản lõi tiếp tục cho thấy bộ đệm thanh khoản có xu hướng mỏng đi. Tỷ lệ nguồn vốn có mức ổn định thấp trên tổng tài sản ngân hàng hữu hình ở mức 30,1% năm 2024 và 29,2% trong nửa đầu 2025, cho thấy tỷ trọng lớn của các nguồn vốn dễ biến động trong cơ cấu chung.

Tỷ lệ thanh khoản lõi trên tổng tài sản hữu hình giảm từ 8,4% xuống 7,6% trong cùng giai đoạn, phản ánh phần tài sản có tính thanh khoản lõi dành cho nhu cầu rút vốn bị thu hẹp. Moody’s ghi nhận mức nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao của các ngân hàng Việt Nam thấp hơn so với mặt bằng khu vực.

Về triển vọng, Moody’s dự báo bộ đệm tài sản có tính thanh khoản cao khó cải thiện mạnh trong vài năm tới, do các ngân hàng vẫn cần duy trì tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ hoạt động kinh tế.

Thanh khoản hệ thống được cho là có xu hướng thắt chặt hơn vào nửa cuối năm 2026, thời điểm tín dụng được dự báo tăng tốc. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho một số ngân hàng lớn làm giảm thêm lượng tài sản có tính thanh khoản cao trong toàn hệ thống, đồng thời giúp hạ chi phí vốn đối với các ngân hàng được hưởng ưu đãi.

Trong bối cảnh đó, Moody’s cho biết đang xếp hạng 20 ngân hàng tại Việt Nam, nhóm chiếm khoảng 84% tổng tiền gửi toàn hệ thống tính đến ngày 30/9/2025. Bốn ngân hàng do Nhà nước nắm quyền chi phối gồm BIDV, VietinBank, Agribank và Vietcombank có xếp hạng tiền gửi dài hạn ngang bằng mức xếp hạng chủ quyền của Việt Nam, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân có xếp hạng trải từ B3 tới Ba3.

Moody’s dự báo Nhà nước tiếp tục hỗ trợ hệ thống ngân hàng chủ yếu thông qua kênh bơm thanh khoản và cho phép áp dụng linh hoạt một số quy định từ phía NHNN.