91 ngành học được Nhà nước hỗ trợ, tối đa tới 8,4 triệu đồng/tháng: Những ai đủ điều kiện nhận?

91 ngành nằm trong diện áp dụng chính sách học bổng

Ngày 21/9, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định 2778/QĐ-BGDĐT về danh mục các ngành đào tạo thuộc nhóm khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được áp dụng chính sách học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP.

Danh mục mới gồm tổng cộng 91 ngành thuộc 15 nhóm ngành. Trong đó có 29 ngành khoa học cơ bản và 62 ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược.

1790062943283_409859754782760738_4506031491658619930_3c97749655ace3221fd3182d360a4290_1790063136.jpgNhập chú thích ảnh
1790062951609_409859754782760738_4506031491658619930_fd42e326025f800c629f84e7a497e311_1790063136.jpgNhập chú thích ảnh
1790062957040_409859754782760738_4506031491658619930_2483bc1b9da0752558d061c484b8056d_1790063137.jpgNhập chú thích ảnh
1790062963083_409859754782760738_4506031491658619930_c42dd50bed57c177d92b9715bddf38e9_1790063137.jpgNhập chú thích ảnh
1790062971052_409859754782760738_4506031491658619930_dd0f582ba593261cf858c2518a82b6d6_1790063138.jpgNhập chú thích ảnh
1790062976601_409859754782760738_4506031491658619930_2402d96e52e183b8108ee6c0d975a620_1790063138.jpgNhập chú thích ảnh
1790062982139_409859754782760738_4506031491658619930_67c7875d7059bb8ea24c719d86048ac0_1790063140.jpgNhập chú thích ảnh
1790063009344_409859754782760738_4506031491658619930_b4376ed954c75a2c2c5c7f86e2385f24_1790063141.jpgNhập chú thích ảnh

Ở nhóm khoa học cơ bản có những ngành như Sinh học, Nhân chủng học, Vi sinh vật học, Lý sinh học, Hóa sinh học, Sinh thái học, Di truyền học, Thiên văn học, Vật lý học, Hóa học, Địa chất học, Khí tượng và khí hậu học, Hải dương học, Toán học, Toán ứng dụng, Toán tin và Thống kê.

Trong khi đó, nhóm kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược tập trung vào nhiều lĩnh vực đang có nhu cầu nhân lực lớn như Công nghệ bán dẫn, Khoa học dữ liệu, Khoa học máy tính, Kỹ thuật phần mềm, Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ thông tin, An ninh mạng, Kỹ thuật Robot, Kỹ thuật hàng không, Kỹ thuật không gian, Thiết kế vi mạch, Kỹ thuật điện tử - viễn thông, Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Kỹ thuật hạt nhân hay Kỹ thuật dầu khí.

Con số 91 ngành thấp hơn 20 ngành so với danh mục 111 ngành được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố hồi cuối tháng 6. Việc điều chỉnh diễn ra sau khi Bộ ban hành Danh mục ngành đào tạo mới theo Thông tư 74/2026/TT-BGDĐT, với việc sắp xếp lại tên gọi và mã ngành trong hệ thống giáo dục đại học.

Tuy nhiên, việc theo học một trong 91 ngành nói trên không đồng nghĩa sinh viên đương nhiên được nhận học bổng. Các cơ sở đào tạo phải tiếp tục căn cứ vào các tiêu chuẩn của Nghị định 179 để xác định người đủ điều kiện.

Sinh viên được hỗ trợ tối đa 5,5 triệu đồng/tháng

Theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP, mức học bổng được chia theo trình độ và loại chương trình đào tạo.

Đối với sinh viên đại học, người học chương trình tài năng được nhận 5,5 triệu đồng/tháng. Sinh viên ngành vi mạch bán dẫn và khoa học cơ bản được hỗ trợ 4,2 triệu đồng/tháng, còn nhóm kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được nhận 3,7 triệu đồng/tháng.

Sinh viên được hưởng học bổng trong 10 tháng mỗi năm. Tổng thời gian hỗ trợ không quá 4 năm đối với chương trình cử nhân và không quá 5 năm với chương trình kỹ sư có từ 150 tín chỉ trở lên.

Như vậy, nếu duy trì đủ điều kiện trong toàn bộ khóa học, một sinh viên chương trình cử nhân có thể nhận hàng trăm triệu đồng tiền hỗ trợ tùy nhóm ngành và chương trình.

Với bậc thạc sĩ, mức học bổng dao động từ 5,5-7,4 triệu đồng/tháng. Người học được nhận trong 12 tháng/năm và tối đa hai năm.

Mức cao nhất dành cho nghiên cứu sinh tiến sĩ là 8,4 triệu đồng/tháng đối với chương trình tài năng, vi mạch bán dẫn và khoa học cơ bản. Nghiên cứu sinh các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược được hỗ trợ 7,4 triệu đồng/tháng.

Chính sách áp dụng với người tuyển sinh từ năm 2025 trở đi, thời điểm bắt đầu cấp học bổng được tính từ ngày 1/9/2026.

Không phải cứ học đúng ngành là được nhận

Đối với sinh viên cử nhân, kỹ sư thuộc các ngành trong diện ưu tiên, Nghị định 179 quy định người học cần đáp ứng các tiêu chuẩn về thành tích hoặc điểm đầu vào.

Một trong các trường hợp là thí sinh đạt giải nhất, nhì hoặc ba tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế dành cho học sinh THPT, với thời gian đạt giải không quá ba năm tính đến thời điểm xét duyệt.

Với thí sinh xét bằng kết quả thi tốt nghiệp THPT, tổng điểm môn Toán và hai trong số các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh phải đạt từ mức quy định trở lên, đồng thời người học phải thuộc nhóm không quá 30% thí sinh có điểm trúng tuyển cao nhất của từng nhóm ngành trên phạm vi cả nước.

Đáng chú ý, ngày 22/9, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ban hành Quyết định 2780/QĐ-BGDĐT xác định mức điểm dùng để xét chính sách học bổng cho các năm tuyển sinh 2025 và 2026.

Đối với tuyển sinh năm 2026, ngưỡng điểm tùy nhóm ngành dao động từ 22,5 đến 24,35 điểm. Chẳng hạn, nhóm Khoa học vật chất và Vật lý kỹ thuật có mức 24,35 điểm; Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông 24,35 điểm; Máy tính 23,85 điểm; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật 23,6 điểm. Một số nhóm như Sinh học, Công nghệ thông tin, Khoa học trái đất, Thống kê, Kỹ thuật mỏ và Xây dựng có mức 22,5 điểm.

Bộ lưu ý đây mới là một trong các căn cứ xét, không phải cứ đạt mức điểm này là chắc chắn được nhận học bổng. Người học vẫn phải đáp ứng đồng thời các điều kiện khác theo Nghị định 179.

Sau khi đã được cấp học bổng, sinh viên muốn tiếp tục hưởng ở những năm sau phải có kết quả học tập trung bình tích lũy từ loại khá trở lên, đồng thời hoàn thành tối thiểu 24 tín chỉ sau năm học đầu tiên và ít nhất 28 tín chỉ mỗi năm từ năm thứ hai. Người học cũng không được bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên trong kỳ xét.

Việc xét và chi trả được thực hiện bởi cơ sở đào tạo trên cơ sở dữ liệu tuyển sinh, học tập và rèn luyện. Theo quy định, nhà trường không yêu cầu sinh viên phải nộp thêm hồ sơ để làm phát sinh thủ tục hành chính.

Hơn 121.000 tân sinh viên chọn các nhóm ngành ưu tiên

Chính sách hỗ trợ được triển khai trong bối cảnh lượng thí sinh lựa chọn các ngành STEM đang tăng.

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 21/8, hơn 633.000 thí sinh đã xác nhận nhập học đại học năm 2026. Trong số này, khoảng 212.600 người chọn các ngành STEM, tương đương 33,6%.

Riêng 15 nhóm ngành thuộc phạm vi Nghị định 179 có hơn 121.000 người nhập học, chiếm khoảng 19,1% tổng số thí sinh xác nhận nhập học. Trong đó, khoảng 11.400 người vào nhóm khoa học cơ bản và gần 109.700 người lựa chọn các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược. Bộ Giáo dục và Đào tạo từng ước tính sơ bộ khoảng 23.000 sinh viên có thể nằm trong nhóm tiếp tục được xem xét tiêu chí đầu vào để hưởng học bổng năm học 2026-2027.

GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, nhận định chính sách học bổng tạo thêm động lực tài chính để người học giỏi cân nhắc những ngành có yêu cầu học tập cao hoặc cần thời gian đào tạo dài.

Xu hướng này cũng phù hợp với định hướng phát triển nguồn nhân lực trong những năm tới. Theo Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được phê duyệt, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2035 người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ đào tạo. Đáng chú ý, mục tiêu về đầu ra là 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng.

Việc dành nguồn lực học bổng cho các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ vì thế không chỉ nhằm giảm gánh nặng chi phí học tập mà còn gắn với mục tiêu bổ sung lực lượng lao động trình độ cao cho những lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, tự động hóa, năng lượng và các ngành kỹ thuật trong những năm tới.