Theo báo cáo chiến lược của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), MBB, CTG, VCB và ACB đều được dự phóng duy trì tăng trưởng lợi nhuận tích cực trong năm 2026. VDSC cũng đưa ra mức giá mục tiêu và tỷ lệ sinh lời kỳ vọng khá cao cho cả 3 cổ phiếu.
CTG: Lợi nhuận dự phóng tăng 24%, ROE trên 21%
VDSC dự phóng LNST năm 2026 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank - Mã: CTG), tăng 24%, cao hơn mức tăng trưởng dự phóng của MBB. ROE 2026F của CTG được dự báo đạt 21,8%.
VDSC dự phóng lợi nhuận CTG tăng trưởng bền vững với CAGR khoảng 18% trong giai đoạn 2026-2031, trong khi ROAE bình quân đạt trên 21%.
Động lực chính được kỳ vọng đến từ việc bình thường hóa chi phí tín dụng. VDSC dự báo, chi phí tín dụng của CTG giảm xuống dưới 1% trong giai đoạn 2026-2031, bình quân khoảng 0,7%, so với 1,6% trong giai đoạn 2021-2025 sau chu kỳ dài xử lý nợ xấu.
Nợ xấu dài hạn (NPL) được dự báo duy trì quanh 1-1,1%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) năm 2025 đạt khoảng 175%. Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng và khả năng khai thác khách hàng bán lẻ được xem là những động lực quan trọng.
Về định giá, CTG hiện có P/E 2026F 5,8 lần và P/B 2026F 1,0 lần, thấp hơn đáng kể so với các ngân hàng quốc doanh khác. VDSC cho rằng mức chiết khấu này chưa phản ánh đầy đủ khả năng sinh lời và chất lượng tài sản đang cải thiện của ngân hàng.
Theo VDSC, CTG còn khả năng tái định giá nếu được chấp thuận các phương án tăng vốn từ nguồn lợi nhuận giữ lại, qua đó cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR) và ROAE.
ACB: Lợi nhuận dự phóng tăng 24%, ROE đạt 14,3%
Đối với Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), VDSC dự phóng lợi nhuận sẽ lấy lại đà tăng trưởng hai chữ số từ năm 2026, với LNTT dự kiến tăng 24% so với năm trước. Theo VDSC, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận kép (CAGR) giai đoạn 2026-2031 có thể đạt khoảng 20%.
Động lực tăng trưởng được VDSC nhận định đến từ việc ACB mở rộng trụ cột khách hàng doanh nghiệp lớn trên nền tảng ngân hàng số, đồng thời khai thác chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu.
VDSC dự phóng tín dụng của ACB tăng trưởng kép khoảng 18,5% trong giai đoạn 2026-2031, trong khi dư nợ khách hàng doanh nghiệp có thể tăng khoảng 21%.
Bên cạnh tăng trưởng tín dụng, biên lãi ròng (NIM) của ACB được kỳ vọng phục hồi. VDSC dự phóng NIM đạt 2,90% trong năm 2025 và bình quân khoảng 3,30% trong giai đoạn 2026-2031.
Theo đánh giá của VDSC, NIM của ACB có dư địa cải thiện nhờ lợi thế từ tỷ trọng vốn huy động không kỳ hạn (CASA) cao, cùng với việc đẩy mạnh cho vay khách hàng có chất lượng tốt. VDSC cũng cho rằng tỷ lệ CASA của ngân hàng có thể duy trì ở mức khoảng 30% trong các năm tới.
Bên cạnh triển vọng tăng trưởng, VDSC lưu ý ACB có thể đối mặt với một số thách thức trong ngắn hạn.
Cụ thể, đà tăng trưởng tín dụng bán lẻ có thể chậm lại khi ngân hàng chuyển trọng tâm sang khách hàng doanh nghiệp. Tuy nhiên, VDSC cho rằng đây cũng là cơ hội để ACB khai thác dư địa tăng trưởng trên chất lượng tài sản.
VDSC dự phóng tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ACB ở mức 1,1% trong năm 2026, trong khi ROE dự phóng đạt khoảng 18,9% năm 2026 và 20,5% năm 2027.
Về dài hạn, VDSC kỳ vọng rủi ro liên quan đến việc ACB tái định hướng tăng trưởng tín dụng sang nhóm khách hàng doanh nghiệp sẽ được giải tỏa khi trụ cột khách hàng doanh nghiệp lớn tăng tốc và bộ đệm dự phòng phục hồi trên 100%.
Trên cơ sở triển vọng kinh doanh, VDSC đưa ra giá mục tiêu 27.600 đồng/cổ phiếu ACB. Ở mức giá mục tiêu này, ACB đang được định giá tương ứng khoảng 6,8 lần P/E dự phóng 2026 và 1,2 lần P/B dự phóng 2026.
VDSC đánh giá ACB có nền tảng tăng trưởng tương đối bền vững nhờ mở rộng khách hàng doanh nghiệp, khai thác chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu, cải thiện NIM và duy trì chất lượng tài sản ở mức an toàn.
Tuy nhiên, nhà đầu tư cũng cần theo dõi các yếu tố rủi ro gồm tác động từ chính sách thuế của Mỹ, diễn biến địa chính trị và khả năng kế hoạch khai thác dòng vốn FDI, chuỗi cung ứng cũng như NIM thấp hơn kỳ vọng.
MBB: Lợi nhuận dự phóng tăng 18%, ROAE gần 17%
VDSC dự phóng lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của Ngân hàng TMCP Quân đội (MB - Mã: MBB) tăng trưởng khoảng 18% trong năm 2026, trong khi ROE dự phóng đạt 16,9%.
Theo VDSC, triển vọng tăng trưởng dài hạn của MBB được hỗ trợ bởi mô hình tập đoàn tài chính đa năng với các công ty thành viên như MBS, MB Capital, Mcredit, MIC và MB Life. Ngân hàng cũng có lợi thế về lượng khách hàng lớn và hệ sinh thái quân đội.
VDSC dự phóng lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của MBB đạt CAGR 23% trong giai đoạn 2026-2031, trong khi ROAE bình quân trên 22%. Động lực tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2027 đến từ ưu đãi room tín dụng tới 35%/năm trong giai đoạn 2024-2028 và tăng trưởng tín dụng mạnh tại MBV.
Về định giá, MBB đang được giao dịch ở mức P/E 2026F 5,7 lần và P/B 2026F 1,1 lần. VDSC cho rằng, cổ phiếu còn dư địa tái định giá trong trung hạn với P/B mục tiêu 1,55 lần.
Tuy nhiên, rủi ro đối với triển vọng MBB đến từ biến động lãi suất trong nước có thể tác động đến NIM, tín dụng và nợ xấu; cùng với đó là khả năng nhận tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
VCB: Lợi nhuận dự phóng tăng 15%, ROE đạt 18,3%
Đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank - Mã: VCB), VDSC dự phóng LNST năm 2026 tăng 15%, trong khi ROE đạt 18,3%.
VDSC kỳ vọng lợi nhuận của VCB tiếp tục tăng trưởng hai chữ số trong trung hạn, với CAGR lợi nhuận giai đoạn 2026-2031 khoảng 19%. Trong năm 2026, lợi nhuận được dự báo tăng khoảng 14% so với cùng kỳ.
Theo VDSC, tăng trưởng tín dụng, khả năng huy động vốn từ phân khúc doanh nghiệp lớn và FDI, cùng với thu nhập từ ngoại thương là những yếu tố quan trọng hỗ trợ triển vọng của VCB.
Trong giai đoạn 2026-2031, VDSC dự báo CAGR tín dụng của VCB đạt khoảng 14%, trong khi NIM duy trì ở mức khoảng 3%. Nền tảng vốn của VCB cũng được đánh giá thuộc nhóm tốt nhất trong các ngân hàng quốc doanh, với CAR năm 2025 đạt khoảng 12,4%.
VDSC đặt giá mục tiêu VCB ở mức 69.500 đồng/cổ phiếu, cao hơn 29% so với giá đóng cửa 54.100 đồng/cổ phiếu ngày 31/7. P/E 2026F của VCB ở mức 12,7 lần, P/B 2026F 1,7 lần và ROE 2026F đạt 18,3%.
VDSC cho rằng mức định giá cao của VCB phản ánh chất lượng tài sản và khả năng sinh lời vượt trội. Tuy nhiên, cổ phiếu vẫn đang được chiết khấu so với mức P/B bình quân 5 năm là 3,1 lần, chủ yếu do tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn.