Tiêu chuẩn để làm Trưởng thôn sau sáp nhập: Có được hưởng phụ cấp hơn 15.000.000 đồng và yêu cầu bắt buộc bằng Đại học không?

Hiện nay, tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn sau sáp nhập thôn, tổ dân phố năm 2026 vẫn được thực hiện theo quy định tại Điều 11 Thông tư 04/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.

truong-thon-2.pngNhững yêu cầu bắt buộc khi ứng cử vị trí Trưởng thôn mới nhất sau sáp nhập 2026. Ảnh minh hoạ

Theo quy định, người giữ chức danh Trưởng thôn phải đáp ứng các điều kiện như:

Có hộ khẩu thường trú và cư trú thường xuyên tại thôn, tổ dân phố; từ đủ 21 tuổi trở lên;

Sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác.

Đồng thời, người được lựa chọn phải có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, được nhân dân tín nhiệm, bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương.

Ngoài ra, Trưởng thôn cần có trình độ văn hóa, năng lực tổ chức, kinh nghiệm và kỹ năng vận động nhân dân để thực hiện hiệu quả các công việc tự quản ở cộng đồng dân cư cũng như nhiệm vụ cấp trên giao.

Như vậy, theo quy định hiện hành, Trưởng thôn sau sáp nhập thôn, tổ dân phố năm 2026 không bắt buộc phải có bằng đại học.

Về chế độ phụ cấp, từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở mới được áp dụng là 2.530.000 đồng/tháng. Trên cơ sở đó, quỹ phụ cấp dành cho người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố cũng tăng tương ứng theo quy định tại Nghị định 33/2023/NĐ-CP.

Theo Điều 33 Nghị định 33/2023/NĐ-CP, số lượng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố không quá 3 người, gồm: Bí thư chi bộ; Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Trưởng Ban công tác Mặt trận.

Khoản 2 Điều 34 Nghị định này quy định ngân sách Trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp hàng tháng cho các chức danh không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố theo hai mức.

Cụ thể, quỹ phụ cấp bằng 6 lần mức lương cơ sở được áp dụng đối với:

Thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên;

Tổ dân phố có từ 500 hộ gia đình trở lên;

Thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự;

Thôn, tổ dân phố thuộc khu vực biên giới, hải đảo.

Ngoài ra, trường hợp thôn có từ 350 hộ trở lên được chuyển thành tổ dân phố khi thành lập đơn vị hành chính đô thị cấp xã vẫn được giữ mức khoán bằng 6 lần mức lương cơ sở.

Với mức lương cơ sở mới là 2.530.000 đồng/tháng, quỹ phụ cấp tối đa đối với nhóm thôn, tổ dân phố thuộc diện nêu trên sẽ là: 6×2.530.000 = 15.180.000 đồng/tháng

Tương ứng, mức khoán quỹ phụ cấp đạt 15.180.000 đồng/tháng.

Đối với các thôn, tổ dân phố còn lại, quỹ phụ cấp được tính bằng 4,5 lần mức lương cơ sở: 4,5×2.530.000 = 11.385.000 đồng/tháng

Theo đó, mức khoán quỹ phụ cấp là 11.385.000 đồng/tháng.

tien-mat-10.jpegẢnh minh hoạ

Tuy nhiên, mức phụ cấp cụ thể của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố không được áp dụng thống nhất trên toàn quốc mà do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, trên cơ sở đề xuất của UBND cùng cấp.

Việc xác định mức hưởng còn phụ thuộc vào trình độ đào tạo, điều kiện thực tế tại địa phương và việc có kiêm nhiệm thêm chức danh không chuyên trách khác hay không.

Trường hợp Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ của chức danh không chuyên trách khác thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 100% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm theo quy định hiện hành.