Gỡ điểm nghẽn từ hành lang vận tải đến cửa khẩu
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 930,1 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024; cán cân thương mại thặng dư 20,05 tỷ USD.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%; xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%; nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD, tăng 35,3%; nhập siêu khoảng 20,46 tỷ USD.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 90,17% kim ngạch xuất khẩu; nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,11% kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu tăng mạnh phần lớn gắn với máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Theo TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), đây là tín hiệu mở rộng năng lực sản xuất, nhưng đồng thời phản ánh mức độ phụ thuộc cao vào đầu vào nhập khẩu. Nếu logistics không theo kịp, chi phí vận chuyển, lưu kho và vốn của nguyên liệu đầu vào sẽ chuyển trực tiếp vào giá thành hàng xuất khẩu.

TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương (Ảnh: MOIT).
Đáng lưu ý trong 8 tháng đầu năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu khoảng 30,60 tỷ USD. Ông Nghiêm đánh giá, điều này đặt ra yêu cầu tối ưu hóa chi phí logistics phải gắn với nâng năng lực tham gia chuỗi của doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ hỗ trợ tăng quy mô lưu chuyển hàng hóa.
Ông Nghiêm phân tích, tổng chi phí logistics của một lô hàng cần được tính đầy đủ gồm: cước vận tải; phí cảng, kho bãi và dịch vụ; chi phí thủ tục, tuân thủ, tồn kho và vốn; cùng chi phí chậm trễ, hư hỏng, thiếu thông tin hoặc phải xử lý lại. Cách tính này giúp tránh giảm chi phí ở một khâu nhưng làm tăng chi phí toàn chuỗi.
"Chi phí logistics tác động trực tiếp đến giá thành, vòng quay vốn, khả năng giao hàng đúng hạn và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, tối ưu hóa chi phí không đơn thuần là yêu cầu từng đơn vị giảm giá dịch vụ. Một phương án có cước vận tải thấp nhưng làm tăng thời gian chờ, tồn kho, lưu container hoặc nguy cơ chậm giao hàng có thể khiến tổng chi phí của doanh nghiệp cao hơn", ông Nghiêm cho hay.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% (Ảnh: Phạm Tùng).
Theo ông Nghiêm, một trong những hướng cần ưu tiên là tổ chức lại vận tải theo hành lang và tăng kết nối đa phương thức. Bộ Xây dựng cùng địa phương, cảng biển, doanh nghiệp vận tải và chủ hàng cần rà soát các hành lang có lưu lượng lớn, tập trung vào những yếu tố như đường vào cảng, tĩnh không cầu, luồng thủy, ga hàng hóa, bãi chuyển tải và kết nối chặng ngắn.
Trên những tuyến có đủ nguồn hàng, cần phát triển sà lan, tàu ven biển và tàu hàng theo lịch, với giá trọn gói và một đầu mối chịu trách nhiệm. Việc gom hàng, tổ chức hàng hai chiều và chia sẻ container rỗng cũng cần được phối hợp giữa các bên. Hiệu quả không chỉ được đo bằng mức cước mà phải tính bằng tổng chi phí và độ tin cậy của toàn hành lang.
Cùng với tổ chức vận tải, thời gian và chi phí tại các điểm nút cũng cần được kiểm soát. Cảng biển, sân bay, cửa khẩu và kho cần áp dụng đặt lịch, điều phối phương tiện, kéo dài giờ khai thác khi có nhu cầu, trao đổi dữ liệu trước khi hàng đến và công khai trạng thái xử lý.
Tại cảng biển, lịch tàu, kế hoạch bãi, xe và sà lan cần được phối hợp; container tồn và thiết bị rỗng cần được xử lý nhanh. Giá, phí và phụ phí cũng phải công khai mức thu, căn cứ, thời điểm áp dụng và dịch vụ tương ứng. Cơ quan có thẩm quyền rà soát các khoản thu và xử lý vi phạm khi có căn cứ. Trong hợp đồng, cần quy định rõ thời gian miễn lưu, trách nhiệm khi chậm trễ và cơ chế giải quyết tranh chấp.
Số hóa phải giúp giảm thời gian, giảm khâu trung gian
Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, một phần đáng kể của chi phí logistics phát sinh không chỉ từ vận tải mà còn từ thủ tục, kiểm tra và xử lý thông tin. Vì vậy, tạo thuận lợi thương mại và kiểm tra chuyên ngành dựa trên rủi ro là một hướng cần được đẩy mạnh.
Ông đề xuất, Bộ Tài chính và các Bộ quản lý chuyên ngành cần lập bản đồ thủ tục đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, xác định những chứng từ trùng lặp và khâu phát sinh chi phí. Nguyên tắc cung cấp dữ liệu một lần, xử lý trước khi hàng đến, quản lý rủi ro, hậu kiểm khi đủ điều kiện, chia sẻ kết quả thử nghiệm và công khai thời gian xử lý cần được thực hiện đồng bộ.
Mỗi cải cách cần được thí điểm trên nhóm hàng và cửa khẩu cụ thể, đồng thời đo trước và sau bằng thời gian giải phóng hàng, số lần kiểm tra, số chứng từ và chi phí thực tế. Việc số hóa chỉ có ý nghĩa khi thực sự loại bỏ được khâu giấy tờ và nhập liệu lặp lại.
Theo hướng này, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng điều phối logistics dùng chung, kết nối với các hệ thống hiện có thay vì tạo thêm cơ sở dữ liệu khép kín hoặc yêu cầu doanh nghiệp báo cáo lại.
Cùng với vai trò của Nhà nước trong hoàn thiện hạ tầng, thể chế và dữ liệu, doanh nghiệp cũng phải chủ động tổ chức lại hoạt động logistics theo hướng quản trị tổng chi phí.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần quản trị theo tổng chi phí đến thị trường; chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, dự báo sản lượng, tối ưu bao bì và hệ số chất xếp, kiểm soát tồn kho, lựa chọn điều kiện giao hàng và phương án tuyến thay thế. Hợp đồng cần nêu rõ cước, phụ phí, thời gian và trách nhiệm.

Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, một phần đáng kể của chi phí logistics phát sinh không chỉ từ vận tải mà còn từ thủ tục, kiểm tra và xử lý thông tin (Ảnh: Phạm Tùng).
Đối với doanh nghiệp logistics trong nước, yêu cầu đặt ra là tăng liên kết để cung cấp dịch vụ tích hợp, đầu tư hệ thống quản lý vận tải và kho, phát triển đại lý ở nước ngoài, nâng năng lực đa phương thức và logistics lạnh. Hiệp hội có thể hỗ trợ gom hàng, đào tạo và xây dựng chuẩn dịch vụ nhưng không thay doanh nghiệp quyết định kinh doanh.
Đối với kho, cần nâng hiệu suất năng lượng, quản lý nhiệt độ và giảm hư hỏng. Doanh nghiệp xuất khẩu cũng phải chuẩn bị dữ liệu phát thải và truy xuất theo từng thị trường. Việc đầu tư xanh cần được đánh giá bằng chi phí vòng đời và khả năng đáp ứng đơn hàng, tránh làm theo phong trào.
Giảm chi phí logistics phải đi vào thực chất
Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, để các giải pháp giảm chi phí logistics đi vào thực chất, cần xây dựng một hệ thống đo lường thống nhất ở cấp quốc gia. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Cục Thống kê, địa phương và hiệp hội logistics thống nhất phương pháp, nguồn dữ liệu và kỳ công bố; đồng thời theo dõi chi phí theo ngành hàng, hành lang và loại hình doanh nghiệp, bên cạnh chỉ tiêu chung so với GDP.
Bộ chỉ số tối thiểu gồm chi phí trên tấn, container hoặc lô hàng; thời gian toàn hành trình và thời gian chờ; tỉ lệ giao đúng hạn; số ngày tồn kho; tỉ lệ chạy rỗng; chi phí lưu container, lưu bãi; tỉ lệ chứng từ điện tử và số lần khai lại dữ liệu. Mỗi chỉ số phải có đường cơ sở, chủ dữ liệu và cơ quan chịu trách nhiệm.
Việc phân định trách nhiệm cũng cần rõ ràng. Nhà nước hoàn thiện thể chế, hạ tầng công cộng, thủ tục, tiêu chuẩn, dữ liệu dùng chung và bảo đảm cạnh tranh. Doanh nghiệp quyết định phương án vận tải, tổ chức tồn kho, lựa chọn đối tác, đầu tư công nghệ và chịu trách nhiệm về hiệu quả hợp đồng.
Ông Nghiêm nêu rõ, quy mô xuất nhập khẩu của nước ta đang tăng nhanh, nhưng lợi thế thương mại chỉ chuyển thành năng lực cạnh tranh khi hàng hóa được đưa tới thị trường với chi phí hợp lý, thời gian ổn định và khả năng tuân thủ đáng tin cậy.
"Dư địa giảm chi phí nằm trong từng kilomet chạy rỗng, từng giờ chờ tại cảng và cửa khẩu, từng chứng từ phải khai lại, từng ngày tồn kho và từng khoản phụ phí chưa minh bạch", ông nói.
Ông nhấn mạnh, Nhà nước phải tạo ra hạ tầng, thể chế và dữ liệu giúp dòng hàng vận hành thông suốt. Doanh nghiệp phải chủ động tổ chức lại chuỗi cung ứng và nâng hiệu suất. Khi mỗi điểm nghẽn có người chịu trách nhiệm, mỗi giải pháp có đường cơ sở và mỗi kết quả được lượng hóa, mục tiêu giảm chi phí logistics mới trở thành kết quả thực tế, góp phần giữ đơn hàng, mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Tổng Giám đốc VIETGO: Không xưởng, không vốn, không tiếng Anh, doanh nghiệp vẫn có thể xuất khẩuĐỌC NGAY