PGS.TS Phùng Thế Đông: Doanh nghiệp có dự án tốt, đơn hàng thật không nên bị ‘bỏ lại’ chỉ vì thiếu tài sản thế chấp

"Chúng ta cần chuyển dần từ tư duy ‘doanh nghiệp có tài sản gì để thế chấp’ sang ‘tư duy doanh nghiệp có phương án kinh doanh, dòng tiền và khả năng trả nợ để cho vay”, đây là phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng tại buổi làm việc với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận vốn tín dụng vào ngày 10/8/2026.

Đây được xem là một trong những hướng tiếp cận quan trọng nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn còn hạn chế về tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, chuyển từ cho vay dựa nhiều vào tài sản thế chấp sang đánh giá năng lực tạo dòng tiền cũng đặt ra yêu cầu mới về dữ liệu, phương pháp thẩm định và cơ chế kiểm soát rủi ro.

Để làm rõ hơn vấn đề này, chúng tôi đã cuộc đã trao đổi với Chuyên gia kinh tế PGS.TS Phùng Thế Đông.

chatgpt-image-06_34_46-12-thg-8-2026-1-.png

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng cần chuyển từ tư duy “doanh nghiệp có tài sản gì để thế chấp” sang “doanh nghiệp có phương án kinh doanh, dòng tiền và khả năng trả nợ”. Ông đánh giá thế nào về quan điểm này?

PGS.TS Phùng Thế Đông: Tôi cho rằng đây là định hướng đúng và cần thiết. Về bản chất, nguồn trả nợ chủ yếu phải là dòng tiền hình thành từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; tài sản bảo đảm chỉ là nguồn thu nợ thứ hai khi phương án kinh doanh không thành công. Nếu quá coi trọng tài sản thế chấp, ngân hàng có thể bỏ qua những doanh nghiệp có dự án tốt, đơn hàng thật và khả năng tạo dòng tiền, nhưng thiếu bất động sản.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với Việt Nam khi tín dụng ngân hàng vẫn là kênh vốn chủ yếu của nền kinh tế.

Tính đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng; dư nợ doanh nghiệp gần 11 triệu tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa hơn 3,9 triệu tỷ đồng.

Tuy nhiên, tiếp cận vốn vẫn là điểm nghẽn, nhất là về tài sản bảo đảm, thủ tục và phương thức thẩm định. Vì vậy, cần chuyển từ “cho vay dựa trên giá trị thanh lý tài sản” sang “cho vay dựa trên năng lực tạo tiền và trả nợ”, nhưng không đồng nghĩa với hạ chuẩn tín dụng.

Để thực hiện được chỉ đạo của Phó Thủ tướng, theo ông, các ngân hàng cần thay đổi chính sách và phương thức cấp tín dụng như thế nào?

PGS.TS Phùng Thế Đông: Các ngân hàng cần thay đổi trên ba phương diện:

Một là thiết kế sản phẩm tín dụng theo ngành, chuỗi giá trị và chu kỳ kinh doanh, thay vì áp dụng một bộ tiêu chí chung cho mọi doanh nghiệp.

Hai là thẩm định dựa trên dòng tiền vào - ra, biên lợi nhuận, hợp đồng, hóa đơn, đơn hàng, lịch sử thanh toán và năng lực quản trị.
Ba là chuyển từ thẩm định tại một thời điểm sang giám sát dòng tiền liên tục trong suốt vòng đời khoản vay.

1786459023176_6210854067398458297_6210854067398458297_551963ff45c3aeb53827783ec2ccff30.jpg

Cách tiếp cận này có phù hợp với thông lệ quốc tế hay không?

PGS.TS Phùng Thế Đông: Cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Báo cáo của Tập đoàn tài chính (IFC), Ngân hàng Thế giới trong tài liệu “Ngành ngân hàng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Xu hướng và Thách thức” ghi nhận nhiều ngân hàng đã triển khai cho vay không có tài sản bảo đảm, dựa trên dòng tiền, dữ liệu hành vi và hệ thống chấm điểm chuyên biệt đối với SME; đồng thời áp dụng cảnh báo sớm và bộ phận thu hồi nợ riêng để kiểm soát rủi ro.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng đã có nền tảng cho cách tiếp cận này, quy định hiện hành cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng tài sản bảo đảm; ngân hàng được quyết định và chịu trách nhiệm về khoản vay không có bảo đảm. Vì vậy, ba điểm nghẽn chủ yếu hiện nay nằm ở dữ liệu, năng lực thẩm định và khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng.

Trong thực tế, tài sản bảo đảm vẫn là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng kiểm soát rủi ro tín dụng. Theo ông, nếu giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp và tăng vai trò của dòng tiền, phương án kinh doanh, hợp đồng, đơn hàng hay lịch sử tín dụng, ngân hàng cần những cơ chế nào để vừa mở rộng khả năng tiếp cận vốn, vừa kiểm soát rủi ro?

PGS.TS Phùng Thế Đông: Theo tôi, cần có ít nhất sáu lớp kiểm soát:

Một là chấm điểm tín dụng dựa trên dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, tài khoản ngân hàng, CIC, hợp đồng và lịch sử thanh toán.

Hai là kiểm chứng đơn hàng, hợp đồng đầu ra và đối tác mua hàng; ưu tiên khoản phải thu từ đối tác có uy tín.

Ba là quản lý dòng tiền qua tài khoản chuyên biệt tại ngân hàng; thiết kế lịch trả nợ phù hợp với chu kỳ kinh doanh.

PGS.TS Phùng Thế Đông: Doanh nghiệp có dự án tốt, đơn hàng thật không nên bị ‘bỏ lại’ chỉ vì thiếu tài sản thế chấp - Ảnh 2.

Bốn là giải ngân theo tiến độ, hạn mức quay vòng hoặc từng đơn hàng, thay vì giải ngân toàn bộ một lần; Năm là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về doanh thu giảm, dòng tiền bất thường, chậm thanh toán thuế hoặc phát sinh nợ quá hạn; và Sáu là chia sẻ rủi ro thông qua bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm tín dụng, bao thanh toán và liên kết chuỗi.

Như vậy, tài sản bảo đảm không bị loại bỏ mà trở thành một cấu phần trong hệ thống kiểm soát đa lớp. Hạn mức, lãi suất và điều kiện vay phải được xác định theo mức độ rủi ro thực tế của từng doanh nghiệp.

SME là nhóm thường gặp khó khăn nhất về tài sản bảo đảm. Theo ông, nếu ngân hàng đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền và phương án kinh doanh, cơ hội tiếp cận vốn của nhóm này sẽ được cải thiện như thế nào?

PGS.TS Phùng Thế Đông: Thực tế hiện nay nếu được thúc đẩy thì SME sẽ là nhóm hưởng lợi lớn nhất vì hạn chế chủ yếu của họ là thiếu bất động sản để thế chấp, chứ không hẳn thiếu thị trường hay dòng tiền.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm gần 98% trong hơn 940 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động; trên 90% có vốn dưới 10 tỷ đồng.

Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, gần 60% SME gặp khó khăn khi tiếp cận vốn ngân hàng, chủ yếu do thiếu tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng mỏng và hồ sơ phức tạp.

Nếu ngân hàng sử dụng dòng tiền, hóa đơn điện tử, hợp đồng và lịch sử giao dịch, những doanh nghiệp SME hoạt động thực chất nhưng không có nhiều tài sản hữu hình để bảo đảm khoản vay, nhất là trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, logistics, công nghệ hoặc công nghiệp hỗ trợ, sẽ có cơ hội tiếp cận vốn cao hơn.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng phải minh bạch sổ sách, tách bạch tài chính cá nhân với doanh nghiệp, thực hiện thanh toán qua ngân hàng và chấp nhận chia sẻ dữ liệu. Nói cách khác, quyền tiếp cận tín dụng tốt hơn phải đi cùng nghĩa vụ minh bạch hơn.

Theo ông, NHNN cần thay đổi hoặc bổ sung những cơ chế nào để khuyến khích các ngân hàng mạnh dạn chuyển sang phương thức cho vay dựa trên dòng tiền nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống?

PGS.TS Phùng Thế Đông: Theo tôi, NHNN nên tập trung vào năm nhóm giải pháp:

Một là xây dựng hành lang và hướng dẫn riêng về cho vay dựa trên dòng tiền, bao gồm tiêu chí nhận diện dòng tiền, chuẩn dữ liệu, kiểm chứng hợp đồng và yêu cầu giám sát sau vay.

Hai là mở rộng hạ tầng thông tin tín dụng, kết nối có kiểm soát CIC với dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, hải quan, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội và thanh toán. Lịch sử tín dụng là một dạng “tài sản bảo đảm bằng uy tín”, giúp giảm bất cân xứng thông tin và mở rộng tín dụng SME.

Ba là cho phép thí điểm có kiểm soát các mô hình chấm điểm bằng dữ liệu thay thế, cho vay theo hóa đơn, đơn hàng và chuỗi cung ứng; có giới hạn dư nợ, đối tượng và cơ chế báo cáo rõ ràng; Bốn là hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ chế tái bảo lãnh; chuyển từ bảo lãnh từng khoản sang bảo lãnh một phần theo danh mục.

Bốn là điều chỉnh giám sát theo mức độ rủi ro, không áp đặt chỉ tiêu hành chính buộc ngân hàng phải cho vay tín chấp, nhưng yêu cầu ngân hàng chứng minh chất lượng mô hình, trích lập dự phòng đầy đủ và chịu trách nhiệm về quyết định tín dụng; và Năm là điểm quan trọng nhất là NHNN cần tạo “hạ tầng niềm tin” bằng dữ liệu, chuẩn thẩm định và cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi thông tin đủ minh bạch, ngân hàng mới có thể giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp mà không đánh đổi an toàn hệ thống.

Trân trọng cảm ơn ông!