Thêm dư địa tín dụng
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư 08 điều chỉnh cách tính tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đối với 4 ngân hàng thương mại Nhà nước (nhóm "big 4") gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank khi cho phép đưa trở lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức tính.
Theo báo cáo mới đây của Chứng khoán MB (MBS) thay đổi này sẽ giúp giảm áp lực kỹ thuật đối với hệ thống ngân hàng trong bối cảnh thanh khoản đang chịu nhiều sức ép.
Nhóm được hưởng lợi lớn nhất từ Thông tư 08 được cho là các ngân hàng quốc doanh, do đang nắm giữ khoảng 99% tổng tiền gửi Kho bạc Nhà nước toàn hệ thống. Theo MBS, ba ngân hàng quốc doanh niêm yết gồm Vietcombank, BIDV và VietinBank có thể giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1-1,5% sau thay đổi chính sách.
Hàng chục nghìn tỷ đồng tín dụng được ưu tiên cho các doanh nghiệp sản xuất, đầu tư công trong thời gian sắp tới.Ngoài ra, việc điều chỉnh cách tính LDR cũng được ước tính có thể bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương khoảng 0,3 - 0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại của toàn hệ thống.
Theo đánh giá của MBS, trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 vẫn ở mức cao, trong khi áp lực duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế còn hiện hữu, việc nới kỹ thuật trong công thức tính LDR sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng mà không tạo áp lực quá lớn lên chi phí vốn.
Tín dụng chảy vào lĩnh vực ưu tiên
Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam - phân tích, quyết định trên tác động đầu tiên và rõ nét nhất là giảm áp lực thanh khoản đối với nhóm ngân hàng quốc doanh. Trước đó, từ ngày 1/1/2026, việc loại bỏ hoàn toàn tiền gửi Kho bạc Nhà nước khỏi công thức tính LDR đã khiến tỷ lệ LDR của nhóm Big4 tiến sát ngưỡng tối đa 85%. Điều này buộc các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động vốn để đảm bảo cân đối nguồn vốn và thanh khoản.
“Việc đưa trở lại 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào công thức LDR có tác động tương tự như việc gia tăng lượng tiền cơ sở trong hệ thống. Khi khối lượng tiền cơ sở tăng lên, cung tiền cũng được cải thiện, qua đó làm giảm áp lực thanh khoản cho các ngân hàng”, ông Đức phân tích.
Theo ông Đức, tác động này trước tiên sẽ hỗ trợ trực tiếp cho 4 ngân hàng quốc doanh, sau đó lan tỏa sang toàn hệ thống ngân hàng thông qua thị trường liên ngân hàng và hoạt động cung ứng tín dụng.
Một điểm đáng chú ý khác là dư địa tín dụng của nhóm Big4 sẽ được mở rộng đáng kể. Theo tính toán, với quy định mới, Vietcombank và BIDV mỗi ngân hàng có thể bổ sung khoảng 37.000 tỷ đồng vào mẫu số LDR, tương ứng tăng thêm khoảng 31.500 tỷ đồng dư địa cho vay. VietinBank và Agribank cũng có thể gia tăng đáng kể khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Ông Đức cho rằng, khi “room” tín dụng được nới rộng, các ngân hàng quốc doanh sẽ có điều kiện tăng cho vay đối với doanh nghiệp, đặc biệt ở các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, xuất khẩu, đầu tư hạ tầng và tiêu dùng.
“Quá trình mở rộng tín dụng sẽ kéo theo sự gia tăng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng, qua đó hỗ trợ thêm cho thanh khoản và vòng quay vốn của nền kinh tế”, ông Đức nói.
Theo chuyên gia này, một hệ quả tích cực khác của quyết định nới LDR là góp phần ổn định mặt bằng lãi suất. Trong thời gian qua, áp lực huy động vốn đã khiến nhiều ngân hàng phải tăng lãi suất tiền gửi để cạnh tranh nguồn vốn đầu vào. Tuy nhiên, khi áp lực thanh khoản được giảm bớt, nhu cầu tăng lãi suất huy động sẽ hạ nhiệt.
“Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang nỗ lực duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Khi chi phí vốn đầu vào ổn định hơn, các ngân hàng cũng có thêm điều kiện để giữ ổn định hoặc giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp và người dân”, ông Đức nhận định.
Dù vậy, chuyên gia cũng lưu ý việc nới LDR không đồng nghĩa với tín dụng sẽ tăng nóng. Ngân hàng Nhà nước vẫn còn nhiều công cụ để kiểm soát chất lượng tín dụng và áp lực lạm phát. Do đó, động thái lần này chủ yếu mang ý nghĩa hỗ trợ thanh khoản, tạo thêm dư địa tín dụng hợp lý và thể hiện sự linh hoạt trong phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa trong bối cảnh dư địa điều hành lãi suất không còn nhiều.