Người đi xe máy, ô tô sẽ bị phạt nếu không chấp hành quy định tốc độ khi lưu thông trên đường, cần biết để thực hiện nghiêm chỉnh

Theo Thông tư 38/2024/TT-BGTVT (nay là Bộ Xây dựng) đã quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, đồng thời thay thế Thông tư 31/2019/TT-BGTVT trước đó.

Văn bản mới quy định rõ về tốc độ thiết kế của đường bộ, tốc độ khai thác và khoảng cách an toàn của phương tiện khi lưu thông. Quy định áp dụng với người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng và các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác quản lý, tổ chức giao thông. Trường hợp xe ưu tiên đang thực hiện nhiệm vụ theo luật định sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh.

Trong khu vực đông dân cư, tốc độ tối đa cho phép đối với các loại xe cơ giới (trừ nhóm xe quy định riêng) là 60 km/h trên đường đôi hoặc đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên, và 50 km/h trên đường hai chiều hoặc đường một chiều chỉ có một làn xe cơ giới.

Ở ngoài khu vực đông dân cư, mức tốc độ được phân chia chi tiết theo từng nhóm phương tiện. Ô tô chở người đến 28 chỗ (không kể lái xe, trừ xe buýt) và ô tô tải có trọng tải không quá 3,5 tấn được phép chạy tối đa 90 km/h trên cả đường đôi và đường hai chiều một làn. Nhóm ô tô chở người trên 28 chỗ và xe tải trên 3,5 tấn được chạy tối đa 80 km/h trên đường đôi và 70 km/h trên đường hai chiều một làn.

xe-may-oto-1.jpgNgười đi xe máy, ô tô cần phải biết quy định mới nhất về tốc độ tối đa khi di chuyển trên đường để chấp hành nghiêm chỉnh, tránh để bị phạt. Ảnh minh họa

Đối với xe buýt, ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc (trừ loại xi téc), xe mô tô và một số xe chuyên dùng, tốc độ tối đa lần lượt là 70 km/h trên đường đôi và 60 km/h trên đường hai chiều một làn. Các phương tiện có tính chất vận hành đặc thù hơn như ô tô kéo rơ moóc, xe trộn bê tông, xe xi téc hoặc đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc xi téc chỉ được chạy tối đa 60 km/h trên đường đôi và 50 km/h trên đường hai chiều.

Thông tư cũng quy định riêng với một số nhóm xe. Xe máy chuyên dùng, xe gắn máy và các phương tiện tương tự chỉ được chạy tối đa 40 km/h. Xe chở người bốn bánh có gắn động cơ được giới hạn ở mức 30 km/h, trong khi xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ được phép chạy tối đa 50 km/h, và chỉ hoạt động trong phạm vi, thời gian cho phép.

Trên đường cao tốc, quy định yêu cầu phải lắp đặt biển báo tốc độ tối đa và tối thiểu. Tốc độ khai thác tối đa được ấn định là 120 km/h, còn tốc độ tối thiểu là 60 km/h. Trường hợp cao tốc có tốc độ thiết kế 60 km/h, mức tối thiểu sẽ tuân theo phương án tổ chức giao thông được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các tuyến nhánh ra, vào cao tốc cũng thực hiện theo phương án này.

Bên cạnh quy định về tốc độ, mức xử phạt hành vi chạy quá tốc độ vẫn áp dụng theo Nghị định 100/2019 (sửa đổi, bổ sung). Với mô tô, xe gắn máy, lỗi vượt tốc độ từ 5–10 km/h bị phạt 300.000–400.000 đồng; từ 10–20 km/h phạt 800.000–1 triệu đồng; trên 20 km/h phạt 4–5 triệu đồng và có thể bị tước giấy phép lái xe từ 2–4 tháng.

Đối với máy kéo và xe máy chuyên dùng, mức phạt dao động từ 400.000 đồng đến 5 triệu đồng tùy mức vượt tốc độ, kèm hình thức tước giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ điều khiển từ 1–4 tháng.

Riêng với ô tô, mức phạt từ 800.000 đồng đến 12 triệu đồng, tương ứng các ngưỡng vượt tốc độ từ trên 5 km/h đến trên 35 km/h. Ngoài tiền phạt, người điều khiển phương tiện có thể bị tước giấy phép lái xe từ 1 đến 4 tháng.

oto-3.pngẢnh minh họa

Việc ban hành Thông tư 38 được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm chuẩn hóa tốc độ khai thác theo từng loại phương tiện và điều kiện hạ tầng, góp phần tăng cường an toàn giao thông từ đầu năm 2025.