Một thói quen quản lý tiền mới đang âm thầm hình thành ở người Việt

Theo bà Lục Kim Thanh, dù tiền gửi, bất động sản và vàng vẫn chiếm tới 87% danh mục của nhà đầu tư cá nhân, số người nắm giữ chứng chỉ quỹ đang tăng nhanh.

Ngành quản lý tài sản, tài chính ở Việt Nam đang trải qua một giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ. Sự bùng nổ của tầng lớp trung lưu và số hóa mạnh mẽ đang giúp ngành này ngày càng phát triển, với quy mô tài sản được quản lý và tư vấn dự báo có tốc độ tăng trưởng kép lên tới 13,8% đến năm 2031. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ngành quản lý tài sản, tài chính tại Việt Nam mới đang ở giai đoạn "bản lề", các giải pháp quản lý còn hạn chế và thói quen của người dân vẫn chủ yếu dừng ở gửi tiết kiệm truyền thống. Vậy làm thế nào để ngành này vươn lên bắt kịp các chuẩn mực quốc tế và tái định vị các chiến lược quản lý tài sản, tài chính cá nhân trong bối cảnh mới?

Trao đổi về vấn đề này, trong chương trình Hộp Tài sản (The Wealth Box Talk) trên VTV8, bà Lục Kim Thanh, Giám đốc điều hành Kinh doanh số, Công ty CP Chứng khoán Kafi cho rằng, thị trường quản lý tài sản, tài chính ở Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, đòi hỏi các chính sách cho thị trường cần tiếp tục được hoàn thiện, cũng như các tổ chức, các định chế tài chính cũng sẽ phải nâng cao năng lực và đa dạng hóa các giải pháp tài sản, tài chính đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân trong bối cảnh mới.

Trước tiên xin hỏi bà Thanh, là một chuyên gia trong ngành quản lý tài sản, tài chính, bà đánh giá ngành này ở Việt Nam hiện đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển?

Bà Lục Kim Thanh: Tôi cho rằng Việt Nam chúng ta đã rất giỏi trong việc tạo lập tài sản, nhưng mới bắt đầu học cách quản lý tài sản. Và chúng ta đang ở đúng điểm bản lề giữa hai giai đoạn đó, hai con số đặt cạnh nhau sau đây sẽ là câu trả lời. 

Theo dự báo của McKinsey, tổng tài sản tài chính cá nhân của người Việt có thể đạt khoảng 600 tỷ USD vào năm 2027, tăng từ mức khoảng 360 tỷ USD cuối năm 2022. Nhưng ở chiều ngược lại, tổng giá trị tài sản ròng của tất cả các quỹ đầu tư chứng khoán trong nước hiện chỉ khoảng 93 nghìn tỷ đồng, tương đương 0,7 phần trăm GDP. Nghĩa là tiền không thiếu. Điều còn thiếu là kênh dẫn để số tiền đó được quản lý một cách chuyên nghiệp.

Và mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là đưa tỷ lệ này từ 0,7 lên 5 % GDP, tức là ngành quỹ phải lớn lên khoảng bảy lần trong bốn năm. Con số đó cho thấy cả tham vọng lẫn khoảng cách mà chúng ta đang phải vượt lên. Đó chính là dấu hiệu kinh điển của một thị trường ở giai đoạn bản lề, tài sản đã đủ lớn để phát sinh nhu cầu quản lý, nhưng bên cung cấp dịch vụ thì vẫn đang trong quá trình hình thành

 Và điểm nghẽn, theo quan sát của tôi, nằm ở ba chỗ, thứ nhất là độ đa dạng của sản phẩm còn hạn chế, số lượng tổ chức cung cấp dịch vụ chuyên biệt còn ít, và quan trọng nhất, thói quen uỷ thác tài sản cho một tổ chức quản lý thì người Việt vẫn chưa có nhiều. Ba điểm này đều đang thay đổi, nhưng cần thời gian.

Vậy theo bà, nếu đặt Việt Nam lên cùng đường cong phát triển với các thị trường đi trước như Singapore, Thái Lan hay Malaysia, theo bà chúng ta đang ở vị trí nào, và điều gì khiến giai đoạn hiện tại của Việt Nam khác với họ ở thời điểm tương đương?

Bà Lục Kim Thanh: Nếu vẽ ra một đường cong phát triển chung, tôi thấy hầu hết các thị trường đều đi qua bốn chặng khá giống nhau. Chặng một là tích lũy tài sản hữu hình, chủ yếu là mua đất và tiền gửi tiết kiệm. Chặng hai là khi các sản phẩm tài chính chuẩn hóa xuất hiện như quỹ mở, trái phiếu, bảo hiểm liên kết đầu tư. Chặng ba là khi dịch vụ tư vấn thu phí theo tài sản quản lý hình thành, và chặng bốn là hoạch định gia sản, chuyển giao qua nhiều thế hệ.

Theo tôi, Việt Nam hiện đang ở nửa sau của chặng hai và chớm sang chặng ba. Điều đáng nói là các thị trường đi trước, ở thời điểm tương đương, danh mục của họ cũng chủ yếu là bất động sản và tiền gửi thôi. Nên tôi không nghĩ chúng ta đang đi chậm hay đi sai mà chúng ta đang đi đúng trình tự. Nhưng có hai điều khiến giai đoạn của Việt Nam khác họ. 

Thứ nhất là công nghệ. Các thị trường đi trước phải xây hạ tầng vật lý, mở chi nhánh, tuyển đội ngũ tư vấn, mất hàng chục năm để phủ khắp. Chúng ta thì có thể triển khai trực tiếp trên nền trên nền tảng số ngay từ đầu, nên ngưỡng tham gia hạ xuống rất thấp và thời gian phổ cập được rút ngắn đáng kể. Thứ hai là tốc độ. Theo báo cáo của BCG năm nay, tài sản tài chính của Việt Nam đang tăng trên 9% mỗi năm, thuộc nhóm cao nhất trong các thị trường mới nổi. Cùng lúc, Knight Frank ghi nhận số cá nhân có tài sản ròng từ 30 triệu USD trở lên của Việt Nam đã tăng khoảng 29% trong 5 năm, và dự báo tăng thêm gần 60% trong 5 năm tới, đứng thứ tư thế giới về tốc độ.

Và thêm một yếu tố nữa vừa xuất hiện, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên Thị trường mới nổi thứ cấp, hiệu lực từ ngày 21 tháng 9 năm nay. Với tôi, giá trị của việc nâng hạng không chỉ là dòng vốn ngoại. Quan trọng hơn là điều đó sẽ buộc toàn bộ chuẩn mực vận hành, minh bạch và quản trị rủi ro trong nước phải nâng theo. Đó mới là thứ ở lại lâu dài.

Hiện cấu trúc danh mục của nhà đầu tư hiện nay là như thế nào theo đánh giá của bà?

Bà Lục Kim Thanh: Theo một khảo sát năm 2026, trên 1.000 nhà đầu tư cá nhân, tiền gửi tiết kiệm chiếm bình quân 37% danh mục, bất động sản 36%, vàng 14%. Cộng lại, ba kênh truyền thống này chiếm tới 87% tổng tài sản. Nhưng có một chi tiết tôi thấy thú vị hơn con số đó, đó là cũng khảo sát ấy cho thấy 86% người được hỏi đồng ý rằng không nên dồn phần lớn tài sản vào một kênh duy nhất. Thế nhưng 76% vẫn ưu tiên bất động sản hoặc vàng, với lý do đây là những tài sản họ hiểu rõ hơn. Nghĩa là nhận thức đã có rồi. Vấn đề nằm ở khoảng cách giữa biết và làm.

Và khoảng cách đó, theo tôi, không phải lỗi của nhà đầu tư, nó đến từ ba lý do. Thứ nhất, tài sản hữu hình cho cảm giác an toàn vì nhìn thấy được, chạm được; rổ sản phẩm tài chính trong nước vẫn còn mỏng. Thứ hai là người Việt chưa có thói quen uỷ thác tài sản cho một tổ chức. Cái thứ ba là vấn đề niềm tin, mà niềm tin thì phải xây bằng thời gian chứ không thuyết phục bằng lời được.

Và điều đó dẫn đến một danh mục như vậy thiếu cân bằng, thanh khoản thấp, và gắn chặt vào một chu kỳ duy nhất. Khi chu kỳ đó đảo chiều, gần như toàn bộ khối tài sản chịu ảnh hưởng cùng lúc và nó thường bộc lộ đúng vào lúc người ta cần tiền nhất. Điểm đáng mừng là mọi thứ đang bắt đầu chuyển. Số nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ hiện khoảng 733 nghìn người, tăng 1,6 lần so với cuối năm 2024. Vẫn còn rất nhỏ so với gần 14 triệu tài khoản chứng khoán, nhưng tốc độ đó cho thấy một thói quen mới đang hình thành.

Bà có thể chia sẻ quan sát của mình về quan điểm đầu tư phổ biến của đại đa số nhà đầu tư cá nhân hiện nay không?

Bà Lục Kim Thanh: Phải thừa nhận rằng, đa số nhà đầu tư Việt Nam hiện vẫn đang giao dịch, chứ chưa phải là quản lý. Và hai việc đó khác nhau ở một điểm rất căn bản, đó là có kế hoạch hay không. Quyết định được đưa ra theo từng cơ hội rời rạc, chỗ nào nghe có vẻ được thì bỏ tiền vào, chứ không nằm trong một kế hoạch tổng thể. Và thành công được đo bằng lãi lỗ của từng giao dịch, thay vì đo bằng tiến độ đạt được mục tiêu tài chính của mình. Cái giá của tư duy đó thường bị bỏ qua, vì nó không hiện ra ngay. Có chi phí giao dịch tích lũy dần, có thuế, nhưng thứ đắt nhất là chi phí cơ hội của thời gian. Sức mạnh của lãi kép chỉ phát huy khi tài sản được để yên đủ lâu. Mỗi lần chúng ta ra vào, chúng ta đang tự bấm lại đồng hồ về số không.

Còn một yếu tố nữa là cảm xúc. Khi không có kế hoạch làm điểm neo, quyết định rất dễ bị chi phối bởi tin tức và biến động ngắn hạn. Thật ra, tôi nghĩ vai trò lớn nhất của một nhà quản lý tài sản đôi khi không phải là chọn tài sản gì, mà là giúp nhà đầu tư giữ được kỷ luật ở những thời điểm mà bản năng nói họ làm điều ngược lại. Nhưng tôi cũng muốn nói thêm rằng, đây là giai đoạn tự nhiên mà mọi thị trường đều đi qua, nên tôi không phán xét nhà đầu tư. Và có một điểm chuyển đang diễn ra rất rõ đó là, thế hệ chủ sở hữu tài sản đầu tiên của Việt Nam đang bước vào tuổi chuyển giao. Khi câu hỏi đổi từ "năm nay tôi lãi bao nhiêu" sang "khối tài sản này sẽ đi đâu sau tôi", thì lúc đó nhu cầu quản lý tài sản thực sự mới bắt đầu. Tôi cho rằng chúng ta đang ở đúng thời điểm đó.

Theo bà, công nghệ và AI thực sự thay đổi điều gì trong cách một nhà đầu tư phổ thông tiếp cận dịch vụ quản lý tài sản, thứ mà trước đây chỉ nhóm nhà đầu tư rất lớn mới có?

Bà Lục Kim Thanh: Với Kafi chúng tôi không định vị là nơi để giao dịch, mà là nền tảng giúp nhà đầu tư quản lý tài sản một cách có kế hoạch. Nghĩa là thay vì tối đa hóa số lần khách hàng giao dịch, chúng tôi xây dựng các giải pháp mà tài sản của nhà đầu tư tăng trưởng bền vững theo thời gian. Đây là cách các tổ chức quản lý tài sản quốc tế đã làm từ lâu, và tôi tin đó là hướng đi mà thị trường Việt Nam cũng phải đến. 

Chúng tôi không bắt đầu bằng câu hỏi "anh muốn mua gì", mà bằng câu hỏi "anh cần gì, và khi nào" như việc nghỉ hưu, học phí cho con, mua nhà…Từ mục tiêu đó mới xây danh mục và danh mục được tái cân bằng theo nguyên tắc đã định trước, thay vì phản ứng theo tin tức mỗi ngày.

 Còn định hướng dài hạn thì mở rộng từ quản lý danh mục sang hoạch định tài chính tổng thể như tối ưu thuế, bảo hiểm và kế hoạch chuyển giao gia sản qua nhiều thế hệ. Đó là chặng thứ tư của đường cong mà tôi nói ở trên, và Việt Nam sẽ cần đến nó sớm hơn nhiều người nghĩ. Còn về công nghệ và AI, thì phải nói rằng công nghệ không thay thế người tư vấn. Nó làm một việc khác mà theo tôi còn quan trọng hơn đó là hạ chi phí phục vụ xuống mức mà một nhà đầu tư có một trăm triệu đồng cũng được chăm sóc theo cách mà trước đây chỉ dành cho nhà đầu tư rất lớn. Đó chính là ý nghĩa của chữ phổ cập.

Có ba việc công nghệ làm tốt hơn con người. Một là theo dõi danh mục liên tục, không nghỉ. Hai là tái cân bằng đúng nguyên tắc mà không bị cảm xúc chi phối. Và ba là cá nhân hóa ở quy mô lớn như việc hàng chục nghìn nhà đầu tư, mỗi người một mục tiêu, một khẩu vị rủi ro khác nhau. Nhưng cũng có ba việc vẫn cần con người, và tôi cho rằng sẽ luôn cần. Hiểu bối cảnh của một gia đình như ai đang phụ thuộc vào ai, dự định gì trong năm năm tới… Giải thích cho nhà đầu tư khi thị trường biến động, đó là lúc người ta cần một con người chứ không cần một thông báo, và ra những quyết định trong những tình huống chưa từng có tiền lệ.

Tôi cũng muốn nói một điều mà tôi nghĩ ngành mình cần thẳng thắn hơn đó là công nghệ giúp phổ cập, nhưng cũng khuếch đại rủi ro nếu thiếu quản trị dữ liệu và kiểm soát nội bộ. Một sai sót trong mô hình, khi chạy trên quy mô lớn, sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người cùng lúc. Đó là lý do ở Kafi, chúng tôi đặt quản trị rủi ro dữ liệu ngang hàng với phát triển các giải pháp, chứ không xem đó là việc làm sau.

Ngoài ra, để vươn lên bắt kịp các chuẩn mực quốc tế, thị trường Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như có thêm những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư. Quan điểm của bà về vấn đề này như thế nào?

Bà Lục Kim Thanh: Trước khi nói về những gì còn thiếu, tôi nghĩ cần ghi nhận những gì đã làm được, vì đó là những thay đổi thực chất. Khuôn khổ tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài đã được thiết lập rõ hơn, cơ chế không yêu cầu ký quỹ trước giao dịch đã được cải thiện, và việc được FTSE Russell nâng hạng từ ngày 21 tháng 9 là kết quả của một quá trình nhiều năm. Nhưng tôi cho rằng nâng hạng là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ. Dòng vốn có thể vào, nhưng nếu rổ sản phẩm trong nước không đủ rộng thì dòng vốn đó cũng không có nhiều chỗ để đi. Nếu được kiến nghị, tôi xin nêu bốn điểm.

Thứ nhất là mở rộng lớp tài sản, thị trường cần thêm các loại quỹ đa dạng hơn như quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ chỉ số, quỹ đầu tư theo chủ đề và khung pháp lý rõ ràng hơn cho các lớp tài sản thay thế. 

Thứ hai, và tôi cho là quan trọng nhất, là chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính cá nhân. Chúng ta cần một khung chứng chỉ hành nghề, một chuẩn đạo đức nghề nghiệp, cùng cơ chế minh bạch về phí và về xung đột lợi ích. Bởi vì ngành này bán niềm tin. Nếu người hành nghề không được chuẩn hóa thì mọi thứ khác đều xây trên nền yếu. 

Thứ ba là chiều sâu của thị trường trái phiếu. Nói thật là nếu không có một cấu phần thu nhập cố định đủ tin cậy và đủ thanh khoản, thì rất khó nói chuyện phân bổ tài sản một cách nghiêm túc. Minh bạch hóa và tăng thanh khoản cho thị trường trái phiếu là điều kiện nền của mọi danh mục cân bằng. 

Và thứ tư là hạ tầng cho gia sản dài hạn, các cấu trúc như quỹ tín thác gia đình, cơ chế chuyển giao tài sản, và chính sách thuế liên quan cần được làm rõ. Nếu không, nhu cầu hoạch định gia sản của người Việt sẽ tìm đến nơi khác để thực hiện, trong khi hoàn toàn có thể giữ lại trong nước. Tôi nghĩ việc hình thành Trung tâm Tài chính Quốc tế như tại Thành phố Hồ Chí Minh là một cơ hội rất tốt để thử nghiệm và chuẩn hóa nhóm sản phẩm mới theo thông lệ quốc tế. Và nếu làm được, tôi tin ngành quản lý tài sản Việt Nam sẽ bước qua điểm bản lề nhanh hơn nhiều so với những gì chúng ta hình dung hôm nay.