MBS Research dự báo NIM ngành ngân hàng tiếp tục suy giảm

Ngành ngân hàng được dự báo tiếp tục duy trì tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2026 nhờ tín dụng mở rộng và sự phục hồi của các nguồn thu ngoài lãi. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản và chi phí vốn gia tăng đang khiến biên lãi ròng (NIM) tiếp tục thu hẹp, tạo ra sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa các nhóm ngân hàng.

Đây là nhận định được MBS Research đưa ra trong báo cáo ngành ngân hàng mới công bố.

Lợi nhuận toàn ngành dự báo tăng gần 18%, tín dụng duy trì quanh 15%

Theo MBS, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng niêm yết trong quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Động lực chính đến từ tăng trưởng tín dụng đạt 3,5% so với đầu năm và sự cải thiện của thu nhập ngoài lãi, đặc biệt là mảng phí dịch vụ.

MBS Research dự báo NIM ngành ngân hàng tiếp tục suy giảm - Ảnh 1.Nguồn: MBS

Trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận 24,5%, vượt xa mức tăng 9,2% của nhóm ngân hàng tư nhân, chủ yếu nhờ nền so sánh thấp của cùng kỳ năm trước.

Đối với cả năm 2026, MBS dự báo lợi nhuận của các ngân hàng trong danh mục theo dõi sẽ tăng 17,9%, thấp hơn mức dự báo gần nhất là 20%.

Nhóm phân tích cho rằng, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm nay nhiều khả năng duy trì quanh mức 15%, trong khi NIM tiếp tục suy giảm là hai nguyên nhân chính khiến dự báo lợi nhuận được điều chỉnh giảm. Ngược lại, thu nhập ngoài lãi được kỳ vọng cải thiện nhờ hoạt động thanh toán, phí dịch vụ và sự phục hồi từng phần của mảng bancassurance tại một số ngân hàng.

MBS cũng lưu ý, nguồn thu từ thu hồi các khoản nợ đã xử lý rủi ro có thể tăng chậm lại do mức nền cao của năm trước.

NIM tiếp tục thu hẹp, áp lực thanh khoản tạo sự phân hóa giữa các ngân hàng

Theo MBS, mặt bằng lãi suất huy động trong quý I/2026 tăng đáng kể so với cuối năm 2025. Trước khi điều chỉnh giảm theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, một số ngân hàng từng niêm yết lãi suất huy động vượt 8%/năm ở các kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng.

Áp lực cạnh tranh huy động khiến chi phí vốn của các ngân hàng niêm yết tăng 71 điểm cơ bản so với cùng kỳ và tăng 32 điểm cơ bản so với quý trước. Trong khi đó, lợi suất tài sản chỉ cải thiện ở mức khiêm tốn.

Kết quả, NIM toàn ngành trong quý I tiếp tục giảm 15 điểm cơ bản so với quý trước và cùng kỳ năm trước.

MBS Research dự báo NIM ngành ngân hàng tiếp tục suy giảm - Ảnh 2.Nguồn: MBS

MBS dự báo, NIM năm 2026 sẽ tiếp tục xu hướng giảm do nhiều yếu tố. Thứ nhất, tăng trưởng huy động chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng, buộc các ngân hàng phải duy trì các chương trình lãi suất hấp dẫn để thu hút tiền gửi. Thứ hai, lãi suất liên ngân hàng bình quân 5 tháng đầu năm đạt 5,8%, cao hơn đáng kể cùng kỳ năm trước, phản ánh áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu. Bên cạnh đó, lãi suất OMO duy trì ở mức 4,5% cho thấy chi phí vốn ngắn hạn khó giảm mạnh trong ngắn hạn.

Ngoài ra, lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm tiếp tục tạo mặt bằng tham chiếu cao cho chi phí vốn trung và dài hạn. Trong khi đó, cơ cấu tín dụng ngày càng tập trung vào các dự án hạ tầng có kỳ hạn dài, làm gia tăng nhu cầu nguồn vốn dài hạn của hệ thống.

MBS cho biết, điều này đã phản ánh rõ trong quý I/2026 khi huy động qua kênh giấy tờ có giá tăng 9,7% so với đầu năm và tăng 31% so với cùng kỳ, chiếm 12,7% tổng huy động.

Tuy nhiên, mức độ biến động NIM sẽ có sự phân hóa đáng kể giữa các ngân hàng. Nhóm ngân hàng có quy mô lớn được dự báo sẽ có mức giảm NIM thấp hơn toàn ngành nhờ lợi thế về CASA (như Vietcombank, Techcombank, MB, VietinBank, ACB…) và được hỗ trợ bởi các nguồn vốn chi phí thấp như nhóm ngân hàng quốc doanh.

MBS Research dự báo NIM ngành ngân hàng tiếp tục suy giảm - Ảnh 3.Nguồn: MBS

Trong khi đó, những ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) thấp như ACB, HDBank… được đánh giá có khả năng chống chịu với NIM tốt hơn nhờ áp lực gia tăng thanh khoản trung và dài hạn thấp hơn toàn ngành.

Ngược lại, nhóm ngân hàng có tăng trưởng tín dụng cao như nhóm nhận chuyển giao bắt buộc, các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bán lẻ lớn hoặc dư nợ liên quan đến kinh doanh bất động sản cao được dự báo sẽ đối mặt với áp lực giảm NIM lớn hơn.