Lãi suất tiết kiệm tăng tại loạt ngân hàng, có nơi chạm ngưỡng 9%/năm

Lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng tăng trở lại

Nhiều ngân hàng thương mại gần đây điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở nhiều kỳ hạn, đặc biệt tại nhóm kỳ hạn trung và dài. Diễn biến này cho thấy các nhà băng đang đẩy mạnh huy động vốn trong bối cảnh nhu cầu tín dụng có dấu hiệu phục hồi.

Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB) vừa điều chỉnh biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến theo hướng tăng khá mạnh ở nhiều kỳ hạn. Với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất được nâng lên 4,7%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với trước. Các kỳ hạn từ 2 đến 5 tháng đồng loạt lên 4,75%/năm, chạm mức trần do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với tiền gửi dưới 6 tháng.

Ở các kỳ hạn dài hơn, NCB cũng tăng lãi suất từ 0,15 đến 0,2 điểm phần trăm đối với kỳ hạn 6 đến 11 tháng, lên 6,4%/năm. Kỳ hạn 12 và 13 tháng được điều chỉnh lên 6,6%/năm. Kỳ hạn 15 tháng tăng lên 6,7%/năm, còn kỳ hạn 18 tháng đạt 6,8%/năm.

Với các kỳ hạn dài từ 24 đến 60 tháng, lãi suất hiện ở mức 6,9%/năm. So với trước, kỳ hạn 24 đến 36 tháng tăng khoảng 0,6 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 60 tháng tăng tới 1,1 điểm phần trăm.

Ngoài tiền gửi trực tuyến, nhiều sản phẩm tiết kiệm khác của NCB cũng được điều chỉnh tăng lãi suất như tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm An Phát và tiết kiệm gửi góp. Lãi suất của các sản phẩm này đều trên 6%/năm. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 24 tháng cũng được nâng từ 7,1%/năm lên 7,4%/năm.

Trước NCB, một số ngân hàng thương mại khác cũng đã điều chỉnh lãi suất huy động như Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB).

z7623509521156_68b935407ec42724eeb6458c7a27085e.jpgNhiều ngân hàng vừa điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm ở nhiều kỳ hạn

Lãi suất giữa các ngân hàng tiếp tục phân hóa

Theo biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến cập nhật ngày 13/3, lãi suất kỳ hạn 1 tháng trên thị trường hiện phổ biến trong khoảng 3% đến 4,75%/năm.

Nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục duy trì mặt bằng thấp, khoảng 3% đến 3,2%/năm.

Trong khi đó, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết lãi suất gần mức trần 4,75%/năm. Mức này hiện xuất hiện tại nhiều ngân hàng như Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BaoVietBank), Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank), Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank), VPBank và NCB.

Ở kỳ hạn 3 tháng, lãi suất phổ biến từ 4% đến 4,75%/năm, tiệm cận mức trần áp dụng với tiền gửi dưới 6 tháng. Một số ngân hàng đã niêm yết mức trần này như BaoVietBank, BVBank, NCB, OCB, PGBank, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank), TPBank, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) và VPBank. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quy mô lớn duy trì mức thấp hơn, khoảng 3,4% đến 3,7%/năm.

Sang kỳ hạn 6 tháng, chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng bắt đầu rõ rệt hơn, dao động từ khoảng 4,5% đến trên 7%/năm. PGBank hiện niêm yết khoảng 7,1%/năm. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) khoảng 6,85%/năm. Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank) và Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LPBank) ở mức khoảng 6,8%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh phổ biến từ 4,5% đến 5,7%/năm.

Mặt bằng lãi suất kỳ hạn 9 tháng trên thị trường phổ biến từ 5,3% đến 6,8%/năm. Các ngân hàng như Bac A Bank, LPBank, PGBank và NCB đang niêm yết quanh 6,4% đến 6,8%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức thấp hơn, khoảng 4,5% đến 5,7%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, nhiều ngân hàng đã đưa lãi suất lên sát hoặc vượt 7%/năm. Mức cao nhất hiện khoảng 7,2%/năm tại Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) và PGBank. LPBank niêm yết khoảng 7%/năm, còn Techcombank khoảng 6,95%/năm. Phần lớn ngân hàng còn lại dao động từ 6% đến 6,7%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì khoảng 5,2% đến 6%/năm.

Với kỳ hạn 18 tháng, lãi suất phổ biến từ khoảng 5,3% đến trên 7%/năm. LPBank niêm yết 7,1%/năm. BVBank khoảng 7%/năm. Bac A Bank khoảng 6,9%/năm. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần khác áp dụng quanh 6% đến 6,8%/năm, còn nhóm ngân hàng quốc doanh phổ biến khoảng 5,3% đến 6%/năm.

laisuathuydong5_1733461495147.jpgHDBank áp dụng mức 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và 7,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng nếu số dư tiền gửi đạt tối thiểu 500 tỷ đồng

Xuất hiện các gói tiền gửi lãi suất cao

Bên cạnh biểu lãi suất thông thường, một số ngân hàng triển khai các gói tiền gửi với lãi suất cao từ 7% đến 9%/năm nhưng đi kèm điều kiện số tiền gửi lớn.

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) áp dụng lãi suất 9%/năm cho khách hàng gửi mới kỳ hạn 12 đến 13 tháng với số tiền tối thiểu 500 tỷ đồng.

Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) cũng đưa ra mức 9%/năm cho kỳ hạn 12 đến 13 tháng khi gửi tại quầy với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 2.000 tỷ đồng.

Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank) áp dụng mức 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và 7,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng nếu số dư tiền gửi đạt tối thiểu 500 tỷ đồng. Ngân hàng số Vikki Bank đưa ra mức 8,4%/năm cho tiền gửi từ 13 tháng trở lên với số tiền tối thiểu 999 tỷ đồng.

Ngoài ra, ngân hàng số Cake by VPBank niêm yết lãi suất 7,1% đến 7,3%/năm cho các kỳ hạn từ 6 đến 24 tháng. Ngân hàng này còn cộng thêm tối đa 0,9 điểm phần trăm đối với tiền gửi từ 6 tháng trở lên, đưa mức lãi suất cao nhất vượt 8%/năm.

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) cũng triển khai chương trình ưu đãi từ ngày 23/2/2026 đến ngày 8/4/2026. Theo đó, khách hàng gửi từ 50 triệu đồng với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên có thể nhận lãi suất tối đa 8,3%/năm.

Ngoài các gói ưu đãi, nhiều ngân hàng hiện niêm yết lãi suất trên 6,5%/năm cho kỳ hạn dài mà không yêu cầu số tiền gửi lớn. Ví dụ, Vikki Bank áp dụng 6,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và khoảng 6,6% đến 6,7%/năm cho kỳ hạn 12 đến 13 tháng. Cake by VPBank niêm yết khoảng 7,3%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và khoảng 7,1%/năm cho các kỳ hạn từ 7 đến 36 tháng.

Bac A Bank áp dụng khoảng 6,5%/năm cho các kỳ hạn 6 đến 11 tháng, 6,55%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 6,7%/năm cho các kỳ hạn 18 đến 36 tháng. VIB niêm yết khoảng 6,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, trong khi PVcomBank áp dụng khoảng 6,8%/năm cho các kỳ hạn từ 15 đến 36 tháng.

Một số ngân hàng khác cũng duy trì mức lãi suất cao như PGBank với khoảng 7,1%/năm cho kỳ hạn 6 đến 9 tháng và khoảng 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 đến 13 tháng. MBV áp dụng khoảng 7,2%/năm cho các kỳ hạn từ 12 đến 36 tháng. BVBank niêm yết khoảng 7% đến 7,1%/năm cho kỳ hạn 18 đến 24 tháng.

Diễn biến trên cho thấy lãi suất huy động tại một số ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô vừa và nhỏ, đang có xu hướng tăng trở lại. Trong khi đó, các ngân hàng lớn vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn, góp phần giữ ổn định mặt bằng chung trên thị trường.