Ngân hàng Nhà nước ngày 26/02 niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.051 VND/USD, giảm 6 đồng so với phiên trước. Tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.849 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn. Tỷ giá bán giao ngay ở mức 26.253 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 26.075 VND/USD, giảm 25 đồng so với ngày 25/02. Thị trường tự do giữ nguyên giá mua bán, giao dịch quanh 26.700-26.750 VND/USD.
Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất VND qua đêm giảm mạnh 0,90 điểm phần trăm so với phiên trước, xuống 2,80%. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng tăng 0,05-0,55 điểm phần trăm. Cụ thể, kỳ hạn 1 tuần ở mức 5,95%; 2 tuần 6,95%; 1 tháng 7,20%.
Lãi suất USD liên ngân hàng đi ngang ở các kỳ hạn ngắn và tăng nhẹ 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng. Mức giao dịch lần lượt là 3,62% qua đêm; 3,67% kỳ hạn 1 tuần; 3,72% kỳ hạn 2 tuần; 3,76% kỳ hạn 1 tháng.
Trên thị trường trái phiếu, lợi suất trái phiếu Chính phủ thứ cấp tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn, trừ kỳ hạn 3 năm giữ nguyên. Chốt phiên, lợi suất 3 năm ở mức 3,20%; 5 năm 3,75%; 7 năm 3,81%; 10 năm 4,12%; 15 năm 4,21%.
Trong nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,5%. Toàn bộ khối lượng trúng thầu. Tuy nhiên, có 11.458,63 tỷ đồng đáo hạn trong ngày.
Nhà điều hành không phát hành tín phiếu mới. Như vậy, cơ quan này hút ròng 10.458,63 tỷ đồng khỏi hệ thống. Hiện có 422.632,70 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Nguồn: MSB ResearchTrước Tết Nguyên đán, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng từng tăng mạnh. Có phiên lãi suất bình quân lên 17%, thậm chí một số ngân hàng phải vay ở mức 21% do thiếu hụt thanh khoản ngắn hạn.
Trong hai tuần đầu tháng 2/2026, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng khoảng 162.000 tỷ đồng qua kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá và triển khai hoán đổi ngoại tệ USD/VND nhằm bổ sung thanh khoản VND cho hệ thống.
Trên thị trường dân cư, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục neo ở mức cao. Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân áp dụng lãi suất trần 4,75%/năm cho kỳ hạn dưới 6 tháng. Kỳ hạn 6 tháng phổ biến quanh 6%/năm.
Một số ngân hàng như Ngân hàng TMCP Bắc Á, Vikki Bank, VCBNeo, Ngân hàng TMCP Phương Đông và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng chi trả trên 6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng.
Với khách hàng gửi số tiền lớn, thường từ 300 triệu đồng trở lên, lãi suất ưu đãi có thể đạt 7,7-8,4%/năm.
Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước cũng điều chỉnh tăng lãi suất ở một số kỳ hạn và phân khúc khách hàng ưu tiên.
Năm 2026, dù Ngân hàng Nhà nước kiểm soát tốc độ tăng tín dụng, quy mô tín dụng toàn nền kinh tế vẫn dự kiến tăng thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. Áp lực huy động vốn vì vậy vẫn lớn, khiến các ngân hàng duy trì mặt bằng lãi suất cao để chuẩn bị nguồn vốn cho tăng trưởng cả năm.