Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - Mã: BID) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ năm 2026 với cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành nghề có một số thay đổi đáng chú ý.
Tổng dư nợ cho vay theo ngành nghề của BIDV tại cuối kỳ đạt 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 128.852 tỷ đồng, tương đương 5,4% so với đầu năm.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng giữa các lĩnh vực có sự phân hóa rõ rệt. Dư nợ dịch vụ tăng hơn 20%. Cùng với công nghiệp chế biến, chế tạo, hai nhóm này tạo ra phần lớn mức tăng ròng của danh mục tín dụng trong kỳ.
Dư nợ cho vay theo ngành nghề tại BIDV (Nguồn: BCTC hợp nhất giữa niên độ năm 2026)Dòng vốn dịch chuyển, dịch vụ áp sát bán buôn và bán lẻ
Sự thay đổi đáng chú ý nhất trong cơ cấu cho vay của BIDV đến từ lĩnh vực dịch vụ.
Cuối kỳ, dư nợ cho vay dịch vụ đạt 534.961 tỷ đồng, tăng 90.771 tỷ đồng so với mức 444.190 tỷ đồng đầu kỳ, tương đương 20,4%. Tỷ trọng của nhóm này trong tổng dư nợ cũng tăng từ 18,72% lên 21,38%.
Mức tăng của dư nợ dịch vụ cao gần 4 lần tốc độ tăng chung của toàn bộ danh mục cho vay. Sau một kỳ, dịch vụ đã trở thành nhóm có quy mô dư nợ lớn thứ hai trong các lĩnh vực được BIDV phân loại.
Đáng chú ý, khoảng cách giữa dịch vụ và bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy đã thu hẹp rất mạnh.
Đầu kỳ, dư nợ bán buôn, bán lẻ đạt 573.300 tỷ đồng, cao hơn dư nợ dịch vụ khoảng 129.000 tỷ đồng. Đến cuối kỳ, khoảng cách này chỉ còn khoảng 14.000 tỷ đồng.
Tỷ trọng cũng dịch chuyển tương ứng. Bán buôn, bán lẻ giảm từ 24,16% xuống 21,94%, trong khi dịch vụ tăng từ 18,72% lên 21,38%. Chênh lệch tỷ trọng giữa hai nhóm từ 5,44 điểm % đã thu hẹp xuống còn 0,56 điểm %.
Diễn biến này cho thấy dịch vụ đang trở thành một trong những động lực chính của tăng trưởng tín dụng BIDV.
Nguồn: BCTC hợp nhất giữa niên độ năm 2026Tăng trưởng tín dụng tập trung vào một số lĩnh vực
Không chỉ dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ cao hơn đáng kể mức chung.
Dư nợ tại lĩnh vực này đạt 396.784 tỷ đồng vào cuối kỳ, tăng khoảng 13,3% so với đầu kỳ. Tỷ trọng trong tổng dư nợ tăng từ 14,77% lên 15,86%.
Ở chiều ngược lại, bán buôn, bán lẻ là nhóm có mức giảm dư nợ nổi bật nhất. Cuối kỳ, dư nợ của nhóm này đạt 548.960 tỷ đồng, giảm 24.339 tỷ đồng (4,2% so với đầu kỳ).
Do đó, tỷ trọng ngành này giảm 2,22%, từ 24,16% xuống 21,94%. Dù thu hẹp, đây vẫn là nhóm có quy mô dư nợ lớn nhất trong danh mục tín dụng của BIDV.
Bên cạnh đó, nhóm ngành khác vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu dư nợ. Cuối kỳ, dư nợ nhóm này đạt 708.463 tỷ đồng, gần như đi ngang so với mức 707.799 tỷ đồng đầu kỳ. Giá trị chỉ tăng khoảng 664 tỷ đồng, nhưng tỷ trọng giảm từ 29,82% xuống 28,32%.
Việc tỷ trọng giảm chủ yếu đến từ việc các nhóm khác tăng nhanh hơn, đặc biệt là dịch vụ và công nghiệp chế biến, chế tạo.
Các lĩnh vực còn lại cũng ghi nhận tăng trưởng nhưng với tốc độ thấp hơn. Dư nợ nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 7,3%, lên 91.774 tỷ đồng. Tỷ trọng tăng nhẹ lên 3,67%.
Dư nợ sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước đạt 113.603 tỷ đồng, tăng khoảng 5,3%. Tỷ trọng gần như đi ngang.
Trong khi đó, dư nợ xây dựng tăng 3,3%, lên mức 107.262 tỷ đồng. Tỷ trọng giảm còn 4,29% trong tổng dư nợ.
Nhìn chung, dòng vốn đang có sự dịch chuyển giữa các nhóm ngành, trong đó dịch vụ và công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp lớn vào phần tăng trưởng tín dụng trong kỳ.
Theo NH Securities, BIDV được đánh giá có khả năng hưởng lợi từ việc Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công trong năm 2026 nhờ vị thế ngân hàng quốc doanh và lợi thế trong tài trợ các dự án hạ tầng quy mô lớn cùng doanh nghiệp Nhà nước.
Theo NH Securities, tiến độ giải ngân đầu tư công tăng tốc sẽ hỗ trợ tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn của BIDV. Đồng thời, ngân hàng có thể gia tăng nguồn thu từ các dịch vụ đi kèm như bảo lãnh, thanh toán và quản lý dòng tiền.
Đây được xem là một trong những động lực quan trọng đối với triển vọng tăng trưởng của BIDV trong năm 2026.