Ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Công văn số 9608/NHNN-CSTT về việc triển khai các giải pháp trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trọng tâm là yêu cầu giảm lãi suất huy động, tạo điều kiện hạ lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng và tài sản.
Theo đó, các tổ chức tín dụng được yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm %/năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, không chạy đua tăng lãi suất huy động.
Với lãi suất cho vay, mức giảm 1,5-2 điểm %/năm được định hướng áp dụng có chọn lọc, tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực được Chính phủ ưu tiên, tùy thuộc năng lực tài chính và khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng.
Bên cạnh yêu cầu điều chỉnh mặt bằng lãi suất, NHNN cũng nhấn mạnh việc kiểm soát dòng vốn, giám sát mục đích sử dụng vốn vay, nhận diện rủi ro từ các nhóm khách hàng lớn và nâng cao chất lượng tài sản. Những yêu cầu này không chỉ tác động đến biên lợi nhuận mà còn ảnh hưởng đến dư địa tăng trưởng tín dụng và chính sách quản trị rủi ro của các ngân hàng.

NIM chịu áp lực, lợi nhuận ngân hàng phân hóa
Theo đánh giá của TCBS, tác động trực tiếp của đợt điều chỉnh lãi suất lần này là áp lực lên biên lãi ròng (NIM). Tuy nhiên, do việc giảm lãi suất cho vay được triển khai có chọn lọc, mức độ ảnh hưởng sẽ không đồng đều giữa các ngân hàng.
Cụ thể, nếu dư nợ thuộc diện được giảm lãi suất 1,5-2 điểm %/năm chiếm khoảng 3-5% tổng danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03-0,07 điểm %, trong khi lợi nhuận trước thuế (LNTT) giảm khoảng 2-4%. Việc hạ tối thiểu 0,5 điểm %/năm đối với lãi suất huy động niêm yết được kỳ vọng bù đắp một phần áp lực này.
Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã chủ động triển khai các chương trình giảm lãi suất cho vay. Sacombank dành gói tín dụng 40.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 6% dư nợ, cho doanh nghiệp thuộc các ngành chủ lực, xuất nhập khẩu và FDI, với mức giảm lãi suất tới 2%/năm. Vietbank triển khai gói 3.000 tỷ đồng, tương đương 2,5% dư nợ, dành cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1,5%/năm.
Trong khi đó, LPBank giảm 1,6-2%/năm đối với các khoản vay mới ngắn hạn dành cho cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ. BIDV và Agribank cũng triển khai các chương trình giảm lãi suất cho vay ngắn hạn, với mức giảm lên tới 2%/năm đối với lĩnh vực ưu tiên.
Ở chiều ngược lại, khả năng giảm chi phí huy động của các ngân hàng có thể không lớn như kỳ vọng. Theo số liệu được TCBS đề cập, tăng trưởng huy động vốn đạt 11,22%, gần tương đương mức tăng trưởng tín dụng 11,44%. Trong khi đó, chênh lệch giữa dư nợ cho vay và tiền gửi VND đã thu hẹp từ gần 2 triệu tỷ đồng xuống dưới 1,5 triệu tỷ đồng.
Điều này phản ánh nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn ở mức cao, khiến các ngân hàng khó có thể giảm sâu lãi suất huy động trên thực tế, dù mặt bằng lãi suất niêm yết được yêu cầu điều chỉnh. Vì vậy, khả năng cải thiện chi phí vốn và bù đắp phần NIM suy giảm sẽ khác nhau tùy thuộc cơ cấu nguồn vốn của từng nhà băng.
Ngân hàng quốc doanh chịu áp lực lớn hơn
Mức độ tác động của chính sách cũng có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng. Theo TCBS, nhóm ngân hàng quốc doanh có thể chịu áp lực lớn hơn do thường đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương điều hành, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay vốn đã ở mức thấp, khiến dư địa giảm thêm không còn nhiều.
Ngược lại, những ngân hàng có chi phí vốn cao, tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn lớn có thể hưởng lợi tương đối khi mặt bằng lãi suất huy động giảm. Tuy nhiên, mức độ cải thiện còn phụ thuộc vào khả năng điều chỉnh chi phí vốn thực tế và tốc độ tái định giá tài sản sinh lãi.
Một yếu tố khác có thể hạn chế dư địa tăng trưởng tín dụng là quy định kiểm soát hoạt động mua bán chứng từ L/C. Theo đánh giá của TCBS, phần dư nợ phát sinh từ hoạt động đẩy mạnh mua hẳn bộ chứng từ L/C trong năm sẽ bị tính trừ vào hạn mức tín dụng, khiến một số ngân hàng khó mở rộng cho vay như trước.
SHB là ngân hàng chịu ảnh hưởng đáng chú ý nhất khi có số dư mua hẳn bộ chứng từ L/C lớn nhất, ở mức 75.500 tỷ đồng, tương đương 11,4% tổng dư nợ. Phần tăng thêm trong 6 tháng tương đương 2,3% dư nợ.
Tại MSB và TPBank, quy mô số dư thấp hơn nhưng phần tăng thêm trong 6 tháng lần lượt tương đương 3,3% và 2,4% dư nợ. Với HDBank và MB, mức tác động ước tính khoảng 0,7-1,4% dư nợ, trong khi Techcombank đã giảm số dư ở hoạt động này.
Áp lực kiểm soát chất lượng tài sản gia tăng
Không chỉ tác động đến NIM và dư địa tín dụng, yêu cầu nâng cao chất lượng tài sản cũng có thể tạo thêm áp lực lên lợi nhuận ngân hàng, đặc biệt với những nhà băng có bộ đệm dự phòng mỏng.
Theo phân tích của TCBS, việc thoái lãi dự thu có thể làm giảm thu nhập lãi hoặc gia tăng chi phí, trong khi yêu cầu nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu và định giá lại tài sản bảo đảm có thể kéo theo chi phí dự phòng cao hơn.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát chặt hơn các giao dịch với cổ đông và hoạt động phân phối lợi nhuận cũng có thể khiến chính sách cổ tức tiền mặt của một số ngân hàng chịu thêm ràng buộc.