Chi tiết các trường hợp được miễn, tạm hoãn nghĩa vụ quân sự

Tại Luật Nghĩa vụ hiện hành đã quy định cụ thể các trường hợp công dân được tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ (nghĩa vụ quân sự).
Các trường hợp được tạm hoãn, miễn gọi nghĩa vụ quân sự - Ảnh 1.

Công dân TP.HCM lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự - Ảnh: PHƯƠNG QUYÊN

Thời gian qua, nhiều bạn đọc đặt nhiều câu hỏi về các trường hợp nào sẽ được tạm hoãn, miễn gọi nghĩa vụ quân sự (nhập ngũ). Về nội dung này, Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành đã có quy định cụ thể.

Các trường hợp được tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ

Theo đó, tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân như sau: 

Bao gồm người chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.

Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được UBND cấp xã xác nhận.

Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.

Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.

Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do UBND cấp tỉnh trở lên quyết định.

Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

Luật cũng quy định cụ thể về các trường hợp miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân gồm con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một. Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ.

Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân.

Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

Luật hiện hành cũng quy định công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định ở trên, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ.

Điều kiện, hồ sơ xin tạm hoãn gọi nhập ngũ với gia đình gặp khó khăn

Bộ Quốc phòng đã trả lời về điều kiện, thành phần, thời hạn nộp hồ sơ xin tạm hoãn gọi nhập ngũ với gia đình gặp khó khăn.

Theo đó, việc tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình với trường hợp công dân là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động được quy định tại Luật Nghĩa vụ quân sự và quy định chi tiết tại thông tư 148/2018 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ.

Cụ thể là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động, trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được UBND cấp xã xác nhận.

Trường hợp công dân nếu đủ điều kiện theo quy định trên đây sẽ được Hội đồng nghĩa vụ quân sự cấp xã xét duyệt, báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ.

Hồ sơ đề nghị tạm hoãn gọi nhập ngũ gồm có đơn đề nghị tạm hoãn nghĩa vụ quân sự vì hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của khu phố, thôn, ấp), giấy tờ chứng minh tình trạng bệnh của cha, mẹ.

Giấy tờ chứng minh bản thân là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động (như hợp đồng lao động hoặc bảng lương…), giấy khai sinh của em đang là học sinh (chưa đến tuổi lao động).

Về thời gian nộp hồ sơ: Trước tháng 9 hằng năm; sau khi nhận được hồ sơ của khu phố, thôn, ấp họp xét và đề nghị lên Hội đồng nghĩa vụ quân sự cấp xã (qua Ban Chỉ huy quân sự cấp xã).

Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an, Phòng Văn hóa - Xã hội cấp xã để xác minh hồ sơ, lý lịch nghĩa vụ quân sự, tổng hợp danh sách báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề