Việt Nam có gia đình ‘vua tàu thủy’ giàu có với 10 người con: Người được giao nối nghiệp cha, cơ nghiệp hơn 40 con tàu từng vận chuyển 1,5 triệu lượt khách mỗi năm

Bạch Thái Bưởi có 10 người con, từng giao con cả nối nghiệp kinh doanh. Khi phát đạt, hãng tàu thủy của ông sở hữu hơn 40 tàu, vận chuyển hàng triệu lượt khách mỗi năm.
Việt Nam có gia đình ‘vua tàu thủy’ giàu có với 10 người con: Người được giao nối nghiệp cha, cơ nghiệp hơn 40 con tàu từng vận chuyển 1,5 triệu lượt khách mỗi năm - Ảnh 1.

Từ 3 con tàu thuê đến hãng vận tải hơn 40 chiếc

Bạch Thái Bưởi (1874–1932) là một trong những doanh nhân nổi bật của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ ba chiếc tàu thuê ban đầu, ông gây dựng một hãng vận tải đường thủy có đội tàu hoạt động trên nhiều tuyến sông, ven biển và vươn ra một số thị trường trong khu vực.

Năm 1908, Bạch Thái Bưởi bắt đầu kinh doanh vận tải thủy bằng cách thuê ba chiếc tàu của hãng Marty - D’Abbadie, sau đó đổi tên thành Phi Phượng, Phi Long và Khoái Tử Long. Những chuyến tàu đầu tiên chạy trên hai tuyến Nam Định - Hà Nội và Nam Định - Bến Thủy (Vinh). Từ năm 1912, ông mở thêm tuyến Nam Định - Hải Phòng và Hà Nội - Tuyên Quang.

Năm 1915, sau khi hãng Marty - D’Abbadie phá sản, Bạch Thái Bưởi mua lại đội tàu và xưởng sửa chữa tàu của doanh nghiệp này. Trong tay ông khi đó có 25 thuyền chèo, tàu kéo cùng nhiều xà lan hoạt động trên các tuyến sông Bắc Kỳ.

Một năm sau, ông thành lập Giang Hải Luân Thuyền Bạch Thái Công ty, đặt trụ sở tại Hải Phòng. Doanh nghiệp tổ chức hoạt động theo mô hình khép kín, từ sửa chữa, đóng tàu đến khai thác vận tải và xây dựng hệ thống đại lý tại các bến cảng như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Bến Thủy và Việt Trì.

Việt Nam có gia đình ‘vua tàu thủy’ giàu có với 10 người con: Người được giao nối nghiệp cha, cơ nghiệp hơn 40 con tàu từng vận chuyển 1,5 triệu lượt khách mỗi năm - Ảnh 2.

Những con tàu đầu tiên của vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi.

Ngày 7/9/1919, tại cảng Cửa Cấm, Hải Phòng, Bạch Thái Bưởi hạ thủy tàu hơi nước Bình Chuẩn. Con tàu bằng thép, trọng tải 600 tấn, do chính xưởng của công ty đóng. Chuyến đi đầu tiên của Bình Chuẩn tới Sài Gòn khởi hành ngày 17/9/1920.

Đến năm 1920, Bạch Thái Bưởi sở hữu trên 30 tàu, với tổng khả năng tải trọng lên tới 3.600 tấn. Đội tàu tiếp tục mở rộng trong những năm sau đó. Vào cuối thập niên 1920, công ty có trên 40 tàu chạy sông và biển, khai thác hầu hết các tuyến sông Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ, tuyến ven biển trong nước và các tuyến tới Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Singapore.

Mỗi năm, đội tàu thực hiện khoảng 5.000 chuyến, vận chuyển hơn 1,5 triệu lượt hành khách và trên 150.000 tấn hàng hóa. Riêng tại Hải Phòng, công ty có khoảng 1.000 công nhân.

Người con cả được giao nối nghiệp

Bên cạnh cơ nghiệp vận tải, gia đình Bạch Thái Bưởi cũng có quy mô đông con. Ông có nhiều người vợ và 10 người con. Trong số đó, người con cả Bạch Thái Tòng được ông tin tưởng giao trách nhiệm tiếp nối hoạt động kinh doanh.

Người vợ cả của vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi là bà Trần Thị Khả, không có con. Người vợ thứ hai là bà Đỗ Thị Tính, sinh hai người con Bạch Thái Toán và Bạch Thái Tòng. Sau khi bà Tính qua đời sớm, bà Khả nuôi dưỡng hai người con này.

Việt Nam có gia đình ‘vua tàu thủy’ giàu có với 10 người con: Người được giao nối nghiệp cha, cơ nghiệp hơn 40 con tàu từng vận chuyển 1,5 triệu lượt khách mỗi năm - Ảnh 3.

Bạch Thái Bưởi chú trọng việc học và đào tạo các con trong hoạt động kinh doanh. Khi trưởng thành, các con được giao công việc tại những bến tàu hoặc khu mỏ của gia đình. Bạch Thái Tòng thường theo cha đi thăm các khu mỏ.

Trong bản di chúc dài 30 trang, Bạch Thái Bưởi giao cho người con cả quyền tiếp nối sự nghiệp kinh doanh. Bản di chúc cũng đề cập việc phân chia tài sản cho các con cháu và người thân trong gia đình, đồng thời căn dặn các thành viên phải đoàn kết, không tranh chấp tài sản.

Không chỉ tham gia hoạt động vận tải, hai người con Bạch Thái Tòng và Bạch Thái Toàn còn được giao quản lý các mỏ than Alexandre và Fabien. Đây là hai mỏ chính mà Bạch Thái Bưởi tập trung khai thác trong số 10 nhượng địa than từng sở hữu.

Mỏ Alexandre có diện tích 1.200 ha, còn mỏ Fabien rộng 724 ha, cùng nằm trong bể than Đông Triều, vùng Bí Chợ. Tuy nhiên, hoạt động khai thác gặp khó khăn do thiếu vốn, trang thiết bị và sự cạnh tranh của các chủ mỏ Pháp. Tổng sản lượng khai thác tại mỏ Bí Chợ trong giai đoạn 1925–1928 chỉ khoảng 6.000 tấn. Hoạt động khai thác dừng lại vào năm 1931.

Hãng tàu phá sản, cơ nghiệp không được khôi phục

Từ năm 1926, hoạt động vận tải đường thủy của Bạch Thái Bưởi bắt đầu gặp khó khăn. Một trong những tổn thất lớn là vụ tàu An Nam chở 150 tấn xi măng bị chìm, gây thiệt hại khoảng 600.000 đồng Đông Dương.

Trong những năm tiếp theo, lượng khách đi tàu thủy nội địa giảm khi người dân chuyển sang sử dụng đường bộ và đường sắt. Hoạt động vận tải quốc tế cũng đình trệ trong bối cảnh cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới.

Việt Nam có gia đình ‘vua tàu thủy’ giàu có với 10 người con: Người được giao nối nghiệp cha, cơ nghiệp hơn 40 con tàu từng vận chuyển 1,5 triệu lượt khách mỗi năm - Ảnh 4.

Con cháu vua tàu thủy đi theo cách mạng, từng công tác tại Báo Quân đội Nhân dân.

Ngày 5/4/1929, Bạch Thái Công ty chính thức tuyên bố phá sản. Cùng thời điểm này, Bạch Thái Bưởi phải bán xưởng sửa chữa và đóng tàu, bao gồm đất đai, công cụ, xưởng máy, cửa hàng và thư viện cho Hãng Vận tải đường sông và đường biển Đông Dương.

Sau khi rời lĩnh vực vận tải thủy, ông tập trung vào kinh doanh bất động sản tại Hải Phòng và khai thác mỏ than Bí Chợ ở Quảng Yên. Ông thành lập công ty than mang tên mình, đặt tại số 61 - 63 phố Amiral des Beaumont, nay là phố Đinh Tiên Hoàng.

Ngày 22/7/1932, Bạch Thái Bưởi qua đời khi công việc kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn. Hoạt động kinh doanh còn lại được chuyển giao cho hai người con, nhưng họ không thể khôi phục cơ nghiệp của cha. Đến năm 1940, khi Nhật chiếm đóng Đông Dương, một số cơ sở kinh doanh của gia đình bị chiếm dụng làm doanh trại.

Ở thế hệ sau, con cháu Bạch Thái Bưởi đi theo những con đường riêng. Bạch Thái Hải, cháu đích tôn của ông, sinh năm 1928, tham gia cách mạng từ tháng 9/1945, nhập ngũ đầu năm 1948 và trở thành phóng viên Báo Quân đội nhân dân năm 1957. Ông phụ trách Ban Tư liệu của báo trước khi nghỉ hưu năm 1981.