Tại Hội thảo - Triển lãm về tài chính số trong quản lý Ngân sách Nhà nước năm 2026 - Vietnam Digital Finance 2026 (VDF-2026), tổ chức sáng 24/9 tại Hà Nội với chủ đề “Xây dựng hệ sinh thái tài chính số thông minh, an toàn, kết nối và bền vững”, các diễn giả không chỉ nói về công nghệ mới mà tập trung vào một câu hỏi lớn hơn: làm thế nào biến dữ liệu và AI thành năng lực thực sự phục vụ quản lý nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Dữ liệu lớn mới chỉ là điểm bắt đầu
Theo ông Nguyễn Việt Hà - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Bộ Tài chính, ngành Tài chính đang đứng trước một bước chuyển quan trọng.
“Chuyển đổi số ngành tài chính đang bước sang giai đoạn đòi hỏi phải tiến thêm một bước: lấy dữ liệu làm nguồn lực, lấy kết nối và chia sẻ làm phương thức, lấy AI và công nghệ số làm công cụ, lấy hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo”, ông Hà nói.

Ông Nguyễn Việt Hà, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Bộ Tài chính (Ảnh: Việt Anh).
Từ cách tiếp cận này, ông Hà cho rằng ngành Tài chính cần thực hiện đồng thời 4 chuyển đổi gồm chuyển từ số hóa sang quản trị dựa trên dữ liệu, từ ứng dụng AI đơn lẻ sang xây dựng năng lực AI toàn ngành, từ các hệ thống riêng lẻ sang một hệ sinh thái kết nối, liên thông và từ tư duy an toàn đi sau sang bảo đảm an toàn ngay từ khi thiết kế.
Đại tá Hà Nam Trung - Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an, phát biểu tại Phiên toàn thể cho biết, trong 16 cơ sở dữ liệu được giao cho Bộ Tài chính triển khai, đến nay 13 cơ sở dữ liệu đã hoàn thành xây dựng, kết nối và đồng bộ dữ liệu về Trung tâm Dữ liệu quốc gia thông qua 112 API.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính được ông Trung nhấn mạnh là cơ sở dữ liệu quốc gia đầu tiên và duy nhất có tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”, đồng bộ theo thời gian thực lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia.

Đại tá Hà Nam Trung - Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an (Ảnh: Việt Anh).
Hiệu quả kết nối cũng đã xuất hiện dưới những con số cụ thể như Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã chia sẻ hơn 92 triệu lượt thông tin cho 12 bộ, ngành và 34 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, chính quy mô đó lại làm nổi lên bài toán khó hơn, đó là chất lượng dữ liệu.
“Có dữ liệu chưa có nghĩa là đã có thể khai thác được dữ liệu, kết nối được dữ liệu chưa có nghĩa là dữ liệu đã tạo ra giá trị”, Đại tá Hà Nam Trung nhấn mạnh.
Theo ông, chỉ một bản ghi thiếu mã định danh, thiếu mã số thuế hoặc không xác định chính xác chủ thể cũng có thể làm giảm khả năng đối soát giữa dữ liệu ngân hàng với bảo hiểm, doanh nghiệp và dân cư.
Khi sai lệch nhân lên hàng triệu bản ghi, đó không còn là một lỗi kỹ thuật riêng lẻ mà trở thành vấn đề của toàn bộ hệ sinh thái. Đây cũng là lý do kết nối dữ liệu theo thời gian thực đang trở thành một yêu cầu ngày càng rõ nét.
Cũng trong khuôn khổ Hội thảo, ông Nguyễn Minh Ngọc - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Bộ Tài chính, cho biết một trong những yêu cầu kỹ thuật được ngành hướng tới là xây dựng API gateway của tài chính, kết nối với API gateway của Chính phủ và Bộ Công an, qua đó dữ liệu có thể liên thông và bảo đảm tính thời gian thực.

Ông Nguyễn Minh Ngọc - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Bộ Tài chính. (Ảnh: Việt Anh)
Ông dẫn một ví dụ liên quan đến trường hợp người nộp thuế bị tạm dừng xuất cảnh. Nếu trước đây việc xử lý có thể thực hiện theo lô và theo thời gian nhất định thì yêu cầu hiện nay là khi phát sinh tại sân bay, cơ quan quản lý có thể xử lý ngay lập tức nhờ kết nối dữ liệu.
Đáng lưu ý, Chiến lược Chuyển đổi số của Bộ Tài chính đến năm 2030 cũng đã xác định mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2030 xây dựng ngành tài chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả và thích ứng cao dựa trên nền tảng công nghệ số, dữ liệu số, đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính công và phát triển nền kinh tế số, xã hội số.
AI phải đi vào công việc
Khi nền dữ liệu ngày càng được chuẩn hóa và kết nối, câu chuyện được các diễn giả đặt ra còn là việc AI sẽ thực sự làm gì trên nền tảng đó.
Ông Nguyễn Văn Quang - Giám đốc Khối Khách hàng chiến lược, VNPT AI, nhận định lĩnh vực tài chính đang tiến gần đến thời điểm câu hỏi không còn là “có ứng dụng AI agent hay không?”, mà là AI agent sẽ đóng vai trò như thế nào trong hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, vận hành và ra quyết định.

Ông Nguyễn Văn Quang - Giám đốc Khối Khách hàng chiến lược, VNPT AI (Ảnh: Việt Anh).
Theo số liệu của VNPT AI, riêng năm 2025, ngành thuế có hơn 978.000 lượt người được phục vụ tại các bộ phận một cửa, hơn 1,1 triệu lượt tương tác điện tử liên quan đến thủ tục thuế và duy trì tới 479 kênh thông tin hỗ trợ.
Trong bối cảnh người dân ngày càng sử dụng nhiều kênh, việc bổ sung nhân sự để xử lý các thời điểm cao điểm không phải lúc nào cũng có thể thực hiện tức thời. Đây là khoảng trống mà AI agent có thể tham gia. Thay vì chỉ trả lời một câu hỏi trên chatbot, AI có thể tiếp nhận yêu cầu, tra cứu thông tin, xử lý các câu hỏi lặp lại và hỗ trợ hoạt động tư vấn.
Trong lĩnh vực hải quan, hướng ứng dụng AI thậm chí đã được gắn trực tiếp với những bài toán nghiệp vụ.
Ông Lưu Mạnh Tưởng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan, cho biết tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa hàng năm ở mức trên 10%, riêng năm nay có khả năng tăng trên 20%, khiến khối lượng công việc tăng rất nhanh. Nếu không ứng dụng AI, ngành Hải quan sẽ khó đáp ứng đồng thời yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp và quản lý nhà nước.

Ông Lưu Mạnh Tưởng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Ảnh: Việt Anh).
Một ưu tiên là dùng AI hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan, qua đó rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí xã hội. Hải quan đã ứng dụng chatbot AI để trả lời nhanh các vướng mắc, trong khi việc hỗ trợ doanh nghiệp khai báo mã số HS cũng đang được thử nghiệm.
Ở chiều quản lý, AI được hướng tới phân tích rủi ro, phát hiện bất thường trong công tác quản lý thay cho việc con người phải rà soát thủ công khối dữ liệu lớn. Dự án hệ thống hải quan số mới được ông Tưởng cho biết sẽ bắt đầu triển khai từ quý IV/2026 và tích hợp các công cụ AI, phân tích dữ liệu.
“Kho dữ liệu” đến tài sản số có quản trị
Một trong những vấn đề sâu hơn được đặt ra tại VDF-2026 là khi dữ liệu đã có, kết nối đã hình thành và AI bắt đầu tham gia, dữ liệu sẽ được khai thác theo mô hình nào.
Ông Nguyễn Tuấn Khang - Lãnh đạo Khối Dữ liệu và AI, IBM khu vực Đông Nam Á, cho rằng một “sàn dữ liệu” không thể chỉ là nơi tập hợp dữ liệu để người dùng truy cập và tải xuống. Khi dữ liệu trở thành một sản phẩm, phải xác định được chủ sở hữu, chất lượng, quyền khai thác, phạm vi sử dụng và cách thức cung cấp.

Ông Nguyễn Tuấn Khang - Lãnh đạo Khối Dữ liệu và AI, IBM khu vực Đông Nam Á (Ảnh: Việt Anh).
Theo số liệu ông Khang dẫn từ Gartner, 70% doanh nghiệp đã nhìn nhận dữ liệu như một sản phẩm. Nhưng để dữ liệu thực sự trở thành sản phẩm, phía cung cấp phải chứng minh chất lượng, nguồn gốc, quyền sở hữu và mức độ tuân thủ.
Ông cho rằng xu hướng tiếp theo sẽ là các sản phẩm dữ liệu được cung cấp trực tiếp cho các AI agent để AI có thể chủ động khai thác dữ liệu thay vì con người phải tải dữ liệu về rồi xử lý thủ công.
Ở đây, bài toán bảo mật cũng thay đổi theo. Khi dữ liệu chỉ được lưu trữ nội bộ, trọng tâm có thể đặt vào bảo vệ máy chủ và hệ thống. Nhưng khi dữ liệu được chia sẻ cho nhiều chủ thể, rủi ro có thể xuất hiện ngay từ quá trình mở và cung cấp dữ liệu cho các hệ thống hoặc chủ thể khác truy cập.
Cùng với bài toán dữ liệu, hạ tầng cũng phải thay đổi để đáp ứng AI quy mô lớn. Ông Phùng Việt Thắng, Giám đốc Quốc gia Intel Việt Nam, cho rằng các hệ thống tài chính quốc gia không thể đặt bài toán xây mới toàn bộ từ đầu mà phải tôn trọng những hệ thống cũ đang vận hành, đồng thời có lộ trình chuyển đổi sang hạ tầng mới.

Ông Phùng Việt Thắng - Giám đốc Quốc gia Intel Việt Nam (Ảnh: Việt Anh).
Theo ông, hạ tầng AI cần đáp ứng đồng thời năng lực tính toán, khả năng mở rộng và mức độ làm chủ hệ thống. Đặc biệt, khi AI chuyển từ giai đoạn huấn luyện sang suy luận trong vận hành thường xuyên, vai trò của CPU ngày càng tăng cùng với GPU.