Sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn từ lâu đã trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp, đồng thời tạo sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân.
Theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, trong bối cảnh nhiều mặt hàng nông sản chủ lực gặp khó khăn về đầu ra, xuất khẩu sắn vẫn duy trì được mức tăng trưởng tương đối ổn định trong những năm gần đây. Riêng năm 2025, tổng giá trị tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của ngành sắn ước đạt khoảng 1,3 - 1,5 tỷ USD. Với kết quả này, Việt Nam hiện là nước xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới và đứng thứ hai toàn cầu về tiêu thụ sắn.
Số liệu từ Cục Hải quan cho thấy, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu hơn 3,9 triệu tấn sắn và sản phẩm từ sắn, thu về trên 1,26 tỷ USD, tăng 52,2% về sản lượng nhưng chỉ tăng 9,8% về kim ngạch. Theo các chuyên gia, mức tăng không tương xứng giữa lượng và giá trị phản ánh hiệu quả xuất khẩu của ngành sắn vẫn còn hạn chế, giá trị gia tăng thấp.
Sắn và các sản phẩm từ sắn mang lại kim ngạch xuất khẩu tỷ USD cho Việt Nam. Ảnh minh họaTrung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ sắn lớn nhất của Việt Nam, với khoảng 3,7 triệu tấn, tương đương 1,17 tỷ USD, chiếm hơn 94% về lượng và trên 92% về kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, so với năm trước, dù sản lượng xuất khẩu sang thị trường này tăng hơn 54%, giá trị chỉ tăng khoảng 10,8%, cho thấy giá xuất khẩu bình quân giảm và rủi ro phụ thuộc quá lớn vào một thị trường.
Ngoài Trung Quốc, sắn Việt Nam còn được xuất sang Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc), Philippines… nhưng quy mô còn khiêm tốn, chưa đủ tạo sự cân bằng về thị trường.
Thông tin trên được đưa ra tại cuộc họp “Chuỗi cung ứng ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức” do Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends tổ chức tại Hà Nội ngày 28/1.
Sắn tươi được thu mua từ nhiều nông hộ nhỏ lẻ, gây khó khăn cho việc kiểm soát và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.Tại đây, ông Nghiêm Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết ngành sắn giữ vai trò quan trọng trong thương mại nông sản quốc gia. Những năm qua, ngành đã từng bước đầu tư theo hướng thân thiện môi trường và mở rộng ứng dụng sản phẩm.
Hiện Việt Nam vừa là nước sản xuất nguyên liệu sắn quy mô lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu trong khu vực. Tổng nguồn cung sắn nguyên liệu mỗi năm đạt trên 18 triệu tấn tươi, trong đó khoảng 58% từ sản xuất trong nước và 42% nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia. Diện tích trồng sắn trong nước hơn 500.000 ha, cung cấp khoảng 10 triệu tấn sắn tươi mỗi năm; phần còn lại, tương đương khoảng 8 triệu tấn, là nguồn nhập khẩu.
Các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh sản lượng xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị tăng chậm, giải pháp căn cơ là nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu. Ngành cần giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sắn lát khô và tinh bột thô, thay vào đó phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như tinh bột biến tính, nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, dược phẩm… Hướng đi này sẽ giúp tăng hiệu quả kinh tế, tính bền vững và giảm phụ thuộc vào thị trường nguyên liệu thô.
Một thách thức lớn khác là yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe. Đại diện Forest Trends cho rằng để đáp ứng yêu cầu này, ngành sắn cần tái cấu trúc chuỗi cung ứng, tăng cường quản lý khâu sản xuất, đặc biệt là kiểm soát sử dụng đất, từng bước chuyển các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch hóa toàn bộ chuỗi.
Sắn lát phơi khô – một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực nhưng giá trị gia tăng còn thấp.TS Tô Xuân Phúc (Forest Trends) cũng cho rằng ngành sắn cần nhận được sự quan tâm và ưu tiên nhiều hơn từ Chính phủ. Hiện có khoảng 1,2 triệu hộ nông dân, trong đó nhiều hộ ở vùng khó khăn, tham gia sản xuất sắn, cho thấy vai trò xã hội rất lớn của ngành hàng này.
Theo TS Hà Công Tuấn - Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, điểm nghẽn lớn nhất trong truy xuất nguồn gốc nằm ở khâu nguyên liệu, cả trong nước lẫn nhập khẩu. Sắn trong nước chủ yếu do các hộ nhỏ lẻ trồng, tiêu thụ qua thương lái, thiếu thông tin về sử dụng đất và giao dịch. Với nguồn nhập khẩu, doanh nghiệp cũng khó nắm rõ vùng trồng và hồ sơ liên quan, gây khó cho việc chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Về phía doanh nghiệp, đại diện Hiệp hội Sắn Việt Nam khẳng định các doanh nghiệp trong ngành cam kết xây dựng chuỗi cung minh bạch, đáp ứng yêu cầu bảo vệ rừng, môi trường và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, kiến nghị cơ quan quản lý sớm ban hành hướng dẫn cụ thể và cơ chế hỗ trợ phù hợp để doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các tiêu chuẩn mới.