Từ tháng 10/2026, một số người dân Việt Nam được hưởng trợ cấp lên tới 1,35 triệu đồng/tháng: Ai nằm trong danh sách?

Từ tháng 10/2026, chính sách trợ cấp xã hội mới có nhiều thay đổi đáng chú ý, trong đó một số nhóm người dân có thể được hưởng mức hỗ trợ cao hơn nếu đáp ứng điều kiện.

Hưởng trợ cấp lên tới 1,35 triệu đồng/tháng từ tháng 10/2026

Từ tháng 10/2026, chính sách trợ cấp xã hội tại Việt Nam có thay đổi đáng chú ý khi Nghị định số 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực. Quy định mới không chỉ điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội mà còn tác động đến nhiều khoản hỗ trợ dành cho những người có hoàn cảnh khó khăn.

Theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP ban hành ngày 21/8/2026, mức chuẩn trợ giúp xã hội được quy định là 540.000 đồng/tháng. Con số này cao hơn 180.000 đồng so với mức 360.000 đồng theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP trước đây. Tuy nhiên, mức chuẩn đã từng được điều chỉnh lên 500.000 đồng trước khi tiếp tục tăng lên 540.000 đồng.

 - Ảnh 1.

Từ tháng 10/2026, chính sách trợ cấp xã hội mới bắt đầu có hiệu lực, làm căn cứ tính các khoản hỗ trợ cho người đủ điều kiện (Ảnh minh họa)

Đáng chú ý, 540.000 đồng/tháng không phải khoản tiền cố định mà tất cả người dân thuộc diện bảo trợ xã hội đều nhận được. Đây là mức chuẩn dùng để tính toán các khoản trợ cấp, hỗ trợ chăm sóc và nuôi dưỡng theo những hệ số tương ứng.

Chẳng hạn, với người được áp dụng hệ số 1,5, khoản trợ cấp hằng tháng sẽ là 810.000 đồng. Nếu hệ số là 2,0, mức hưởng tăng lên 1.080.000 đồng, trong khi hệ số 2,5 tương ứng 1.350.000 đồng mỗi tháng.

Theo Điều 5 và Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức trợ cấp 1.350.000 đồng/tháng được áp dụng đối với một số nhóm đối tượng đủ điều kiện như trẻ dưới 4 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, trẻ dưới 4 tuổi nhiễm HIV/AIDS thuộc diện quy định, trẻ em và người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng. Mức hưởng này được tính theo hệ số 2,5 nhân với mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng.

Như vậy, số tiền người dân thực tế nhận được có thể cao hơn đáng kể so với mức chuẩn 540.000 đồng, tùy thuộc vào độ tuổi, hoàn cảnh và nhóm đối tượng được quy định.

Nghị định cũng cho phép các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách quyết định mức chuẩn hoặc mức trợ giúp xã hội cao hơn quy định chung, sau khi được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua.

Điều này đồng nghĩa cùng một nhóm đối tượng nhưng mức trợ cấp thực tế có thể khác nhau giữa các địa phương nếu có chính sách hỗ trợ bổ sung.

Những ai được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định mới?

Trong số các nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội, những trường hợp được áp dụng hệ số 2,5 là nhóm đáng chú ý khi mức hưởng tương ứng đạt 1.350.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, không phải mọi người thuộc những nhóm tuổi nêu trên đều được hưởng khoản tiền này mà phải đáp ứng điều kiện cụ thể về hoàn cảnh hoặc mức độ khuyết tật.

Theo Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, các đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng tập trung vào những nhóm có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cần sự hỗ trợ từ Nhà nước. Trong đó, nhóm đầu tiên là trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc các trường hợp được quy định, chẳng hạn trẻ bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi, trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khiến không còn người trực tiếp chăm sóc.

Với nhóm trẻ em này, mức trợ cấp được tính theo độ tuổi. Trẻ dưới 4 tuổi được áp dụng hệ số 2,5, tương ứng 1.350.000 đồng/tháng; trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên được áp dụng hệ số 1,5, tương ứng 810.000 đồng/tháng. Một số trường hợp tiếp tục học tập sau 16 tuổi vẫn có thể được hưởng chính sách theo điều kiện quy định.

 - Ảnh 2.

Tùy từng nhóm đối tượng và hệ số áp dụng, mức trợ cấp xã hội hằng tháng có thể đạt 810.000 đồng, 1.080.000 đồng hoặc 1.350.000 đồng (Ảnh minh họa)

Nhóm tiếp theo là người đơn thân thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo đang nuôi con nhỏ, đáp ứng các điều kiện về tình trạng hôn nhân và độ tuổi của con. Với nhóm này, chính sách quy định mức hỗ trợ tương ứng cho từng người con đang nuôi.

Người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn cũng nằm trong diện được xem xét hưởng trợ cấp xã hội. Tuy nhiên, không phải tất cả người từ 60 tuổi trở lên đều đương nhiên được nhận khoản trợ cấp này.

Theo quy định, đối tượng phải đáp ứng các điều kiện cụ thể, chẳng hạn thuộc hộ nghèo và không có người có nghĩa vụ phụng dưỡng, hoặc có người phụng dưỡng nhưng người đó đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Một số trường hợp người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng được cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng cũng thuộc diện hỗ trợ.

Đối với người khuyết tật, chính sách áp dụng cho người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật. Mức hưởng được xác định dựa trên mức độ khuyết tật cùng những yếu tố liên quan như độ tuổi.

Ngoài ra, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; trẻ dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo sinh sống tại những địa bàn đặc biệt khó khăn theo quy định; và người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo không có nguồn thu nhập thuộc các trường hợp quy định cũng nằm trong nhóm được trợ giúp.

Bên cạnh trợ cấp hằng tháng, Nghị định 335/2026/NĐ-CP còn quy định về hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội và một số chính sách hỗ trợ liên quan.

Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/10/2026. Đối với những người đang hưởng chính sách thuộc diện được chuyển mức theo quy định, việc điều chỉnh được thực hiện từ ngày 1/7/2026.

Người dân đang hưởng trợ cấp hoặc cho rằng mình thuộc diện được hỗ trợ có thể liên hệ UBND cấp xã nơi cư trú để kiểm tra đối tượng, mức hưởng và thủ tục liên quan.

Nguồn: Báo Chính phủ