Quyết định mỗi người được nhận 700.000 đồng tiền mặt do nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo, hiện đã hiệu lực: Ai thuộc nhóm đối tượng hưởng, áp dụng tại địa phương nào?

Căn cứ Nghị quyết 44/2026/NQ-HĐND do HĐND tỉnh Đồng Tháp ban hành, mức chi quà tặng chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn tỉnh được áp dụng từ ngày 15/10/2026.

Đối tượng áp dụng là công dân Việt Nam có đăng ký thường trú tại tỉnh Đồng Tháp, thuộc các độ tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95, 100 và trên 100 tuổi.

nhan-tien01.jpgAi thuộc nhóm đối tượng hưởng 700.000 đồng quà tặng bằng tiền mặt, áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Ảnh minh hoạ

Theo Điều 2 của nghị quyết, mức quà tặng và hình thức chúc thọ được quy định cụ thể như sau:

Người thọ 70 và 75 tuổi được nhận 700.000 đồng tiền mặt;

Người thọ 80 và 85 tuổi được nhận 800.000 đồng tiền mặt;

Người thọ 95 tuổi được nhận 1,3 triệu đồng tiền mặt;

Người trên 100 tuổi được nhận 1,5 triệu đồng tiền mặt;

Đối với người thọ 90 tuổi, Chủ tịch UBND tỉnh tổ chức chúc thọ và tặng quà gồm hiện vật trị giá 300.000 đồng cùng 1 triệu đồng tiền mặt.

Riêng người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúc thọ và tặng quà theo quy định.

Đối với các trường hợp thọ 70, 75, 80, 85, 95 tuổi và trên 100 tuổi, Chủ tịch UBND cấp xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thực hiện việc chúc thọ, tặng quà.

Theo Điều 3 Nghị quyết 44/2026/NQ-HĐND, kinh phí thực hiện chính sách được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành, phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 và các văn bản liên quan.

Như vậy, từ ngày 15/10/2026, công dân Việt Nam có đăng ký thường trú tại Đồng Tháp khi thọ 70 hoặc 75 tuổi sẽ được nhận quà mừng thọ trị giá 700.000 đồng bằng tiền mặt theo quy định của địa phương. Chính sách này chỉ áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

Mức trợ cấp xã hội hằng tháng cho người cao tuổi tăng lên bao nhiêu?

Bên cạnh chính sách quà tặng chúc thọ, mừng thọ, người cao tuổi thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cũng được áp dụng mức trợ cấp theo quy định mới tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP.

Theo khoản 5 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

Theo điểm đ khoản 1 Điều 6 của nghị định, mức trợ cấp được tính dựa trên mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng. Cụ thể:

Đối tượng
Hệ số
Mức trợ cấp hằng tháng
Người cao tuổi từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, không có người phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng
1,5
810.000 đồng
Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc hộ nghèo, không có người phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng
2,0
1.080.000 đồng
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, đủ điều kiện theo quy định và có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng
3,0
1.620.000 đồng

Trước đây, theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội là 500.000 đồng/tháng. Với các hệ số tương ứng, mức trợ cấp lần lượt là 750.000 đồng, 1 triệu đồng và 1,5 triệu đồng/tháng.

Như vậy, mức trợ cấp theo quy định mới tăng lần lượt 60.000 đồng, 80.000 đồng và 120.000 đồng/tháng so với mức cũ.

Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/10/2026. Tuy nhiên, mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng được áp dụng từ ngày 1/7/2026 đối với người đang hưởng chính sách theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Vì vậy, các trường hợp thuộc diện được điều chỉnh sẽ được tính hưởng theo mức mới từ ngày 1/7/2026 và được truy lĩnh phần chênh lệch theo quy định.

Gia đình có trách nhiệm gì đối với người cao tuổi?

Theo khoản 5 Điều 5 Luật Người cao tuổi năm 2009, gia đình có trách nhiệm chủ yếu trong việc phụng dưỡng người cao tuổi. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 10 của luật.

Theo đó, phụng dưỡng người cao tuổi là việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp và học tập.

Người có nghĩa vụ phụng dưỡng người cao tuổi gồm con, cháu và những người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

nhan-tien-1.jpgẢnh minh hoạ

Tùy điều kiện thực tế, người có nghĩa vụ phụng dưỡng phải sắp xếp nơi ở phù hợp với sức khỏe, tâm lý của người cao tuổi; chu cấp kinh tế; thanh toán chi phí điều trị, chăm sóc y tế và động viên khi người cao tuổi ốm đau; đồng thời thực hiện việc mai táng khi người cao tuổi qua đời.

Những người có nghĩa vụ phụng dưỡng phải phối hợp với nhau trong quá trình chăm sóc. Pháp luật cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân không thuộc diện có nghĩa vụ phụng dưỡng tham gia chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi.