Một trường hợp nghỉ việc không được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Theo quy định tại Luật Việc làm (sửa đổi, áp dụng từ năm 2026), người lao động muốn hưởng trợ cấp thất nghiệp phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện. Trong đó, có bốn tiêu chí quan trọng gồm: chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian; nộp hồ sơ đúng hạn và đặc biệt là chưa có việc làm sau khi nộp hồ sơ.

Ngoài ra, mức hưởng trợ cấp được xác định bằng 60% mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất, với thời gian hưởng tối đa 12 tháng tùy theo số năm đóng.

Đáng chú ý, từ năm 2026, thời gian xác định tình trạng “chưa có việc làm” đã được rút ngắn xuống còn 10 ngày làm việc kể từ khi nộp hồ sơ.

tro-cap-that-nghiep.jpgTrợ cấp thất nghiệp là quyền lợi của người lao động. Ảnh minh họa

Điểm mấu chốt trong trường hợp vừa làm công ty vừa kinh doanh nằm ở khái niệm “có việc làm”. Theo quy định chi tiết tại Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động được xác định là có việc làm nếu thuộc một trong các trường hợp như: ký hợp đồng lao động, được tuyển dụng, hoặc có giấy đăng ký hộ kinh doanh, doanh nghiệp đang hoạt động.

Quy định này đồng nghĩa với việc, ngay cả khi không làm việc theo hợp đồng lao động truyền thống, việc sở hữu và vận hành hộ kinh doanh cũng được xem là một hình thức có việc làm hợp pháp.

Thậm chí, trong quá trình đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, nếu người lao động phát sinh đăng ký hộ kinh doanh thì chế độ này cũng sẽ bị chấm dứt.

Các chuyên gia khuyến nghị, người lao động cần đặc biệt lưu ý yếu tố “có việc làm” khi làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Việc mở hộ kinh doanh, thành lập doanh nghiệp hoặc ký hợp đồng lao động mới ngay cả trong thời gian chờ xét duyệt đều có thể khiến hồ sơ bị từ chối hoặc chấm dứt hưởng.