Mỗi người cao tuổi sẽ nhận 500.000 đồng/tháng, điều kiện cụ thể ra sao và khi nào hưởng?

Năm 2026, người cao tuổi thuộc một số nhóm đối tượng nhất định có thể được xem xét hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.

nhan-tien-1.jpegChi tiết nhóm đối tượng được trợ cấp hưu trí xã hội với mức 500.000 đồng/tháng. Ảnh minh hoạ

Hiện, hai chế độ hỗ trợ chính gồm trợ cấp hưu trí xã hội và trợ cấp xã hội hằng tháng.

Trợ cấp hưu trí xã hội với mức hỗ trợ 500.000 đồng/tháng

Theo Nghị định 176/2025/NĐ-CP, công dân Việt Nam thuộc các nhóm sau được xem xét hưởng trợ cấp hưu trí xã hội:

Người từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;

Người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, đồng thời không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Mức trợ cấp hiện hành là 500.000 đồng/người/tháng. Tùy điều kiện kinh tế - xã hội, địa phương có thể quyết định mức hỗ trợ cao hơn.

Đáng chú ý, theo Luật Người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Vì vậy, nhiều cử tri đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét hạ độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 75 tuổi xuống 60 tuổi nhằm mở rộng diện hỗ trợ cho người cao tuổi không có lương hưu.

Trợ cấp xã hội hằng tháng dành cho người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn

Ngoài trợ cấp hưu trí xã hội, một số nhóm người cao tuổi còn có thể được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

Các đối tượng được xem xét gồm:

Người đã đến tuổi nghỉ hưu, có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện hưởng lương hưu, chưa đủ điều kiện nhận trợ cấp hưu trí xã hội, đồng thời không nhận BHXH một lần và không bảo lưu thời gian đóng BHXH;

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng được cá nhân hoặc gia đình nhận chăm sóc tại cộng đồng.

Theo quy định hiện hành, mức chuẩn trợ giúp xã hội là 500.000 đồng/tháng. Mức trợ cấp thực tế được xác định bằng mức chuẩn nhân với hệ số tương ứng.

Cụ thể:

Người cao tuổi từ đủ 60 tuổi đến dưới 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội: hưởng 750.000 đồng/tháng (hệ số 1,5);

Người từ đủ 80 tuổi trở lên thuộc nhóm trên: hưởng 1 triệu đồng/tháng (hệ số 2,0);

Người cao tuổi được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng thay vì vào cơ sở trợ giúp xã hội: hưởng 1,5 triệu đồng/tháng (hệ số 3,0).

Các mức trợ cấp người cao tuổi có thể nhận trong năm 2026

Tổng hợp các chính sách hiện hành cho thấy:

Người từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hằng tháng có thể được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội 500.000 đồng/tháng;

Người từ đủ 60 tuổi trở lên thuộc diện khó khăn có thể được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng từ 750.000 đồng đến 1,5 triệu đồng, tùy từng trường hợp cụ thể.

Theo quy định, mỗi người chỉ được hưởng một chế độ trợ cấp, không được đồng thời nhận cả trợ cấp hưu trí xã hội và trợ cấp xã hội hằng tháng.

Người lao động cao tuổi được áp dụng chế độ làm việc ra sao?

Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hoặc làm việc không trọn thời gian phù hợp với tình trạng sức khỏe.

Doanh nghiệp không được bố trí người lao động cao tuổi làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, trừ trường hợp bảo đảm đầy đủ điều kiện an toàn lao động.

Ngoài ra, người sử dụng lao động và người lao động cao tuổi có thể ký kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn. Trường hợp người lao động đang hưởng lương hưu nhưng tiếp tục làm việc theo hợp đồng lao động mới, họ vẫn được hưởng đầy đủ tiền lương và các quyền lợi theo hợp đồng bên cạnh chế độ hưu trí.

Người lao động cao tuổi có được nhận trợ cấp thôi việc?

Theo Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên sẽ được chi trả trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động thuộc các trường hợp luật định. Mức hưởng được tính bằng nửa tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc.

Tuy nhiên, pháp luật loại trừ hai trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc:

Người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;

Người lao động tự ý bỏ việc từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng.

nhan-tien-1(1).jpegẢnh minh hoạ

Như vậy, người lao động cao tuổi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu sẽ không được doanh nghiệp chi trả trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Ngược lại, trường hợp đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đóng đủ thời gian bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, người lao động vẫn có thể được nhận trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.