Báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2026 cho thấy, nhiều ngân hàng thương mại duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận tích cực. Đáng chú ý, một số nhà băng ghi nhận lợi nhuận quý III cao nhất từ trước đến nay, trong khi nhiều ngân hàng đã hoàn thành phần lớn kế hoạch lợi nhuận cả năm chỉ sau 9 tháng.
Nổi bật là Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), với lợi nhuận trước thuế hợp nhất 9 tháng đạt gần 30.000 tỷ đồng, tăng gần 47% so với cùng kỳ năm trước, tương đương kết quả thực hiện cả năm 2025 và hoàn thành khoảng 72,4% kế hoạch năm 2026. Riêng quý III, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 11.000 tỷ đồng, đánh dấu quý thứ hai liên tiếp ngân hàng xác lập kỷ lục lợi nhuận.
Tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 28.900 tỷ đồng, tăng 23,7% so với cùng kỳ. Riêng quý III, lợi nhuận đạt 10.400 tỷ đồng, tăng 25,8%, mức cao nhất theo quý từ trước đến nay.
Ở nhóm ngân hàng có lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Lộc Phát Việt Nam (LPBank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 10.421 tỷ đồng, tăng gần 9% so với cùng kỳ, hoàn thành 70% kế hoạch năm. Riêng quý III, lợi nhuận đạt 4.448 tỷ đồng, tăng 29%...
Những kết quả trên phản ánh khả năng mở rộng hoạt động và cải thiện hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Tuy nhiên, lợi nhuận tăng trưởng chưa đồng nghĩa áp lực tài chính đã giảm. Khi nhu cầu tín dụng tiếp tục ở mức cao, ngân hàng phải đồng thời bảo đảm nguồn vốn, duy trì thanh khoản, kiểm soát chi phí huy động và đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn, quản trị rủi ro.
Theo dự báo của SSI, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2027 có thể đạt 16 -17%, trong khi các ngân hàng thuộc phạm vi theo dõi đạt 17,9%. Nhu cầu vốn dự kiến tiếp tục tập trung vào xây dựng, hạ tầng và các lĩnh vực liên quan đến đầu tư công.
Đây là yếu tố quan trọng định hình triển vọng ngành ngân hàng, bởi để duy trì tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng không chỉ cần mở rộng quy mô huy động mà còn phải cân đối kỳ hạn và chi phí vốn.
Áp lực thanh khoản từng thể hiện rõ trên thị trường liên ngân hàng vào đầu năm 2026, trước khi dịu bớt nhờ các công cụ điều tiết của Ngân hàng Nhà nước, dòng tiền gửi Kho bạc Nhà nước và việc điều chỉnh quy định về sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. Diễn biến này cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của hệ thống không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng tiền gửi, mà còn chịu tác động từ sự phân bổ dòng tiền và cơ chế điều hành.
Theo SSI, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng thuộc phạm vi theo dõi được dự báo tăng 19,5% trong năm 2026, trước khi giảm tốc còn 15,4% vào năm 2027. Hai yếu tố chính gây sức ép là biên lãi thuần thu hẹp và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng.
Như vậy, nếu năm 2026 ghi nhận triển vọng lợi nhuận tích cực tại nhiều ngân hàng, năm 2027 có thể là giai đoạn đòi hỏi các nhà băng chú trọng hơn đến chất lượng tăng trưởng. Khả năng mở rộng tín dụng sẽ phải đi cùng hiệu quả sử dụng vốn, kiểm soát chi phí đầu vào và năng lực xử lý các khoản vay tiềm ẩn rủi ro.
Một thách thức khác đến từ nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn. Theo SSI, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã ở mức 140-150%. Riêng danh mục các dự án quy mô lớn đã công bố có thể hấp thụ tối thiểu 30% lượng tín dụng tăng ròng trong giai đoạn 2026-2030.
Điều này đồng nghĩa ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong tài trợ hạ tầng, đặc biệt ở giai đoạn thi công, khi dự án chưa tạo ra dòng tiền và mức độ rủi ro còn cao. Nếu phần lớn nhu cầu vốn dài hạn tiếp tục dựa vào hệ thống ngân hàng, áp lực cân đối kỳ hạn và thanh khoản sẽ khó được giải quyết chỉ bằng việc tăng huy động tiền gửi.
Tuy nhiên vấn đề quan trọng là bên cạnh việc đa dạng hóa nguồn vốn, tăng vốn tự có tiếp tục là yêu cầu quan trọng.
Kết quả kinh doanh quý III và 9 tháng năm 2026 cho thấy nhiều ngân hàng đang có nền tảng lợi nhuận tích cực. Dù vậy, triển vọng năm 2027 sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng huy động vốn với chi phí hợp lý, kiểm soát nợ xấu và củng cố vốn tự có. Về dài hạn, phát triển thị trường vốn để chia sẻ nguồn lực tài trợ các dự án hạ tầng sẽ là yếu tố quan trọng giúp giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đồng thời tạo dư địa cho hệ thống tiếp tục cung ứng vốn cho nền kinh tế.