Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, nếu vốn chảy quá mạnh vào tài sản tài chính mà không vào sản xuất, xuất khẩu hay kinh tế thực thì sẽ dẫn đến mất cân đối và khủng hoảng.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ cần tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển. Trong bối cảnh dư địa ngân sách và tín dụng có hạn, bài toán huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Trong cuộc trò chuyện với Người Đưa Tin (NĐT), GS.TS Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước nhiệm kỳ 2024-2029 đã phân tích các kênh dẫn vốn tiềm năng, những điều kiện để khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Tín dụng ngân hàng không thể mãi là trụ cột cho tăng trưởng cao

NĐT: Thưa ông, trong báo cáo giải trình mới đây về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, Bộ Tài chính cho biết Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên. Theo ông, đâu là những kênh dẫn vốn hiệu quả và thực tế nhất hiện nay, đặc biệt để thu hút dòng vốn tư nhân và vốn quốc tế?

GS.TS Hoàng Văn Cường: Về mặt kinh tế, tăng trưởng là kết quả của đầu tư, cùng với các yếu tố như công nghệ và lao động. Muốn tăng trưởng cao thì không thể không gia tăng đầu tư. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư là yếu tố mang tính then chốt, quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào tăng đầu tư vốn. Mặc dù hiện nay chúng ta đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp này chưa thể ngay lập tức thay thế vốn bằng công nghệ. Chúng ta vẫn phải tiếp tục đầu tư lớn để tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi đó. Vì vậy, đáp ứng nhu cầu vốn là nhiệm vụ có tính quyết định.

Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số - Ảnh 1.

GS.TS Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước nhiệm kỳ 2024-2029.

Nguồn vốn ngân sách, như Bộ Tài chính nêu, chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ. Điều đó có nghĩa là nguồn vốn ngoài ngân sách phải trở thành động lực căn bản cho tăng trưởng.

Từ trước đến nay, huy động vốn ngoài ngân sách ở Việt Nam chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng không thể mãi là trụ cột cho tăng trưởng cao. Chẳng hạn, năm 2025 khi tăng trưởng đạt khoảng 8,5%, tín dụng đã phải tăng tới 19,5%, kéo theo nhiều áp lực như lãi suất tăng để đảm bảo thanh khoản hệ thống.

Nếu tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng, lãi suất sẽ bị đẩy lên, làm tăng chi phí vốn và gây khó khăn cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Vì vậy, năm 2026, chính sách tài chính - tiền tệ phải ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, nên Chính phủ cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa khoảng 15%. Do đó, phần vốn còn thiếu phải được huy động từ các kênh khác, thay vì tín dụng truyền thống.

Sớm giao chỉ tiêu tăng trưởng cho các địa phương, doanh nghiệp Nhà nướcChủ tịch Hà Nội: Mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026 là hoàn toàn khả thi

Trước hết là thị trường vốn dài hạn như thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Đây là các kênh có khả năng huy động nguồn vốn nhỏ lẻ, ngắn hạn để chuyển hóa thành vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, thị trường trái phiếu là kênh rất cần được thúc đẩy. Trước đây thị trường trái phiếu từng phát triển nóng do khuôn khổ pháp lý và công cụ giám sát chưa hoàn thiện, dẫn tới rủi ro. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn như hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, thể chế quản lý được hoàn thiện hơn, kinh nghiệm quản lý thị trường cũng tốt hơn.

Trái phiếu có thể bao gồm trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình, trái phiếu cho các dự án hạ tầng lớn. Đặc biệt là trái phiếu xanh cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, metro, giao thông xanh… Đây là thị trường rất tiềm năng để huy động nguồn lực.

Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số - Ảnh 2.

Kênh thứ hai là hợp tác công - tư (PPP). Đây là phương thức kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân, trong đó Nhà nước không phải bỏ quá nhiều vốn mà huy động nguồn lực tư nhân vào các lĩnh vực trước đây vốn do Nhà nước đầu tư.

Tuy nhiên, muốn PPP hấp dẫn hơn thì phải hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, đảm bảo công bằng lợi ích cho nhà đầu tư. Dù vậy, tôi cho rằng đây vẫn là kênh có tiềm năng rất lớn, không chỉ trong hạ tầng mà còn có thể mở rộng sang văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế và dịch vụ công.

Ngoài ra, FDI vẫn luôn là nguồn vốn rất quan trọng vì đi kèm với công nghệ. Nếu thu hút được FDI thế hệ mới, Việt Nam sẽ vừa có vốn, vừa tiếp cận được các công nghệ mới trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, chip bán dẫn…

Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Tp.HCM và Đà Nẵng cũng có thể trở thành đầu mối thu hút dòng vốn tài chính quốc tế vào Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần khơi thông nguồn vốn trong dân và trong doanh nghiệp. Đây là nguồn lực rất lớn. Nếu có cơ chế phù hợp để người dân chuyển tài sản tích trữ thành vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua quỹ đầu tư, trái phiếu, thị trường tài chính…, chúng ta sẽ tạo được nguồn lực rất mạnh cho phát triển.

NĐT: Theo kế hoạch, khoảng 25,5 triệu tỷ đồng sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân. Theo ông, mục tiêu này có khả thi trong vòng 5 năm tới không?

GS.TS Hoàng Văn Cường: Theo tôi, tính khả thi không phụ thuộc vào con số lớn hay nhỏ, mà phụ thuộc vào cơ chế huy động vốn. Nếu có cơ chế tốt thì ngay cả nguồn lực đang nằm trong dân như vàng tích trữ cũng có thể chuyển thành vốn đầu tư. Điều quan trọng nhất là thể chế.

Nếu chúng ta có môi trường đầu tư hấp dẫn, nhà đầu tư nước ngoài sẽ mạnh dạn rót vốn. Nếu trung tâm tài chính quốc tế hoạt động hiệu quả và thu hút được các định chế tài chính lớn thì dòng vốn đổ vào Việt Nam sẽ rất lớn. Tương tự, PPP cũng không chỉ giới hạn ở nhà đầu tư trong nước mà hoàn toàn có thể thu hút nhà đầu tư quốc tế.

Ngoài ra, Việt Nam hiện đang được nâng hạng tín nhiệm quốc gia, khả năng trả nợ được đánh giá tích cực hơn. Thị trường chứng khoán cũng vừa được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là những điều kiện thuận lợi để huy động cả vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp.

Tăng trưởng phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô

NĐT: Thưa ông, tăng đầu tư quy mô lớn thường đi kèm nhiều rủi ro. Theo ông, cần làm gì để vừa đạt tăng trưởng cao vừa kiểm soát được lạm phát, nợ công và ổn định ngân sách?

GS.TS Hoàng Văn Cường: Đúng là khi gia tăng quy mô đầu tư và dòng vốn thì nguy cơ xảy ra tăng trưởng nóng là điều phải đặc biệt lưu ý. Nếu chạy theo mục tiêu tăng trưởng mà dồn vốn vào những lĩnh vực hấp thụ vốn nhanh nhưng thiếu bền vững, có thể tạo ra tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng sẽ dẫn đến mất cân đối và bất ổn kinh tế.

Do đó, tăng trưởng phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô. Hai mục tiêu này phải song hành với nhau. Ổn định vĩ mô tốt sẽ tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, từ đó thu hút thêm nguồn lực đầu tư. Ngược lại, tăng trưởng hiệu quả cũng giúp củng cố ổn định vĩ mô.

Điều quan trọng là Nhà nước phải định hướng dòng vốn, cả vốn công và vốn tư, vào những lĩnh vực tạo ra tăng trưởng bền vững, tránh dồn vào các tài sản mang tính đầu cơ như bất động sản hay chứng khoán. Nếu vốn chảy quá mạnh vào tài sản tài chính mà không vào sản xuất, xuất khẩu hay kinh tế thực thì sẽ dẫn đến mất cân đối và khủng hoảng.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục sử dụng hiệu quả các công cụ tài khóa, tiền tệ để ổn định vĩ mô. Thời gian qua chúng ta đã làm khá tốt việc này, từ ứng phó với dịch bệnh cho tới biến động giá dầu hay khủng hoảng kinh tế thế giới.

Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện các lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao, từ đó kịp thời điều tiết dòng vốn.

Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số - Ảnh 3.

Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ cần tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển.

NĐT: Thủ tướng thời gian qua cũng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là giảm hệ số ICOR. Theo ông, việc giảm ICOR có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

GS.TS Hoàng Văn Cường: ICOR phản ánh mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng. Nói cách khác, nó đo hiệu quả của đồng vốn đầu tư. Giảm ICOR không phải là tìm cách kéo con số xuống một cách cơ học, mà là làm sao để đồng vốn đầu tư nhanh chóng chuyển thành sản phẩm và tăng trưởng. Nếu vốn đầu tư bị nằm đọng, không tạo ra sản phẩm thì ICOR sẽ tăng lên.

Do đó, muốn giảm ICOR thì phải bảo đảm dòng vốn được đưa vào những lĩnh vực có khả năng chuyển hóa nhanh thành sản phẩm, tránh đầu tư đầu cơ hoặc chôn vốn. Đặc biệt, các dự án đầu tư phải hoàn thành nhanh và đưa vào khai thác sớm. Đầu tư công nếu dàn trải sẽ khiến thời gian kéo dài, hiệu quả thấp. Ngược lại, đầu tư tập trung, trọng điểm và dứt điểm sẽ giúp giảm ICOR rõ rệt.

Không chỉ đầu tư công, nhiều dự án tư nhân hiện nay cũng đang bị đình trệ do vướng pháp lý, thủ tục hành chính. Điều này khiến vốn bị "chết", làm ICOR tăng cao. Vì vậy, cần tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông dòng vốn.

Quan trọng hơn, đầu tư phải gắn với tiềm năng phát triển. Khu vực nào, lĩnh vực nào có tiềm năng thì tập trung đầu tư vào đó. Nếu đầu tư vào nơi không có khả năng phát triển thì rất dễ trở thành nơi "chôn vốn".

Địa phương dám làm, dám quyết thì mới xử lý được dự án tồn đọng

NĐT: Bộ Tài chính cho biết khoảng 3 triệu tỷ đồng đang bị tồn đọng trong các dự án dở dang. Theo ông, đâu là giải pháp để xử lý dứt điểm tình trạng này?

GS.TS Hoàng Văn Cường: Các dự án tồn đọng, đắp chiếu đang làm chôn vùi nguồn lực rất lớn. Không chỉ vốn đầu tư bị mắc kẹt mà đất đai, cơ hội phát triển và nhiều nguồn lực liên quan khác cũng bị đình trệ.

Nguyên nhân phổ biến nhất hiện nay là vướng mắc pháp lý. Có trường hợp do thay đổi chính sách, quy hoạch; nhưng cũng có trường hợp do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý vi phạm quy định dẫn tới bị thanh tra, đình lại. Quốc hội vừa qua đã ban hành nghị quyết tháo gỡ các dự án vướng mắc pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là khâu thực thi ở địa phương.

Các địa phương phải thực sự năng động, dám làm, dám quyết định thì mới xử lý được các dự án tồn đọng. Ví dụ như việc xác định lại giá đất hay xử lý các thủ tục chuyển tiếp đều đòi hỏi trách nhiệm rất lớn từ chính quyền địa phương.

Ngoài ra, có nhiều dự án chậm do nhà đầu tư yếu năng lực. Trong trường hợp này, Nhà nước cần có cơ chế để chuyển giao cho nhà đầu tư mới có năng lực hơn tiếp tục triển khai dự án.

Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số - Ảnh 4.

Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, nếu vốn đầu tư bị nằm đọng, không tạo ra sản phẩm thì ICOR sẽ tăng lên.

NĐT: Chính phủ mới ban hành 8 nghị quyết cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Theo ông, những cải cách này sẽ tác động thế nào tới huy động vốn và mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

GS.TS Hoàng Văn Cường: Thủ tướng từng nói rằng cách nhanh nhất, rẻ nhất để thúc đẩy tăng trưởng là cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm đó.

Việc cắt giảm này trước hết làm thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ cơ chế "xin - cho" sang Nhà nước kiến tạo và phục vụ. Thay vì doanh nghiệp phải chờ cấp phép, Nhà nước xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn để doanh nghiệp tự tuân thủ và tự chịu trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn rất nhiều.

Khi thủ tục được cắt giảm, doanh nghiệp sẽ chủ động đầu tư, chủ động kinh doanh mà không bị ách tắc bởi các khâu xin phép. Nhờ đó, các nguồn lực trong xã hội được huy động mạnh mẽ hơn cho phát triển.

Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Những lĩnh vực thực sự cần quản lý vẫn phải duy trì, nhưng cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Nhà nước công bố tiêu chuẩn, điều kiện; doanh nghiệp tự công khai hoạt động của mình và thị trường sẽ cùng tham gia giám sát. Cách quản lý này minh bạch và hiệu quả hơn nhiều so với mô hình cấp phép truyền thống. Chính điều đó sẽ tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch và trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.

NĐT: Cảm ơn ông đã dành thời gian chia sẻ!