Ngân hàng sẵn sàng chia sẻ lợi nhuận
Tại cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước sáng 19/10, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - cho biết ngân hàng xác định hai nhiệm vụ trọng tâm là bảo đảm nguồn vốn cho các lĩnh vực ưu tiên và giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp.
Theo ông Tùng, Vietcombank sẽ tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, ứng dụng công nghệ và giảm lãi suất huy động đầu vào, tạo dư địa hạ lãi suất cho vay tối thiểu 1,5 - 2% theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Đối với các lĩnh vực ưu tiên, ngân hàng dự kiến xây dựng những gói tín dụng có mức giảm lãi suất lớn hơn yêu cầu chung, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp hơn.
Trong khi đó, ông Lê Ngọc Lâm - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - cho biết, ngân hàng cam kết triển khai ngay gói tín dụng quy mô khoảng 100.000 tỷ đồng, với kỳ hạn cho vay đến 6 tháng, dành cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Toàn cảnh cuộc họp về lãi suất ngân hàng sáng 18/10 (ảnh: Hoàng Giáp).BIDV dự kiến giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2%, đưa lãi suất của gói tín dụng xuống mức 6-7%/năm, tùy theo kỳ hạn. Để có nguồn lực thực hiện, ngân hàng sẽ tiết giảm chi phí hoạt động, điều chỉnh lãi suất huy động và chấp nhận giảm thu nhập khoảng 500 tỷ đồng từ chương trình này.
Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, ông Loic Faussier - Tổng Giám đốc Sacombank - cho biết, ngân hàng đã triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với tổng quy mô lên đến 40.000 tỷ đồng, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, củng cố năng lực tài chính và chủ động nắm bắt cơ hội phát triển.
Theo ông Loic Faussier, nguồn vốn ưu đãi được kỳ vọng tiếp thêm động lực để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tạo việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp người dân chủ động hơn trong các kế hoạch tài chính.
Cần tháo gỡ áp lực nguồn vốn
Dù đồng thuận với yêu cầu giảm lãi suất, đại diện các ngân hàng cũng nhìn nhận đây không phải bài toán đơn giản. Thách thức lớn là phải cân đối giữa chi phí huy động vốn, quyền lợi của người gửi tiền, nhu cầu tín dụng của nền kinh tế và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.
Ông Nguyễn Thanh Tùng cho biết khó khăn lớn nhất hiện nay đối với Vietcombank là giảm lãi suất huy động đầu vào. Các ngân hàng cần duy trì mức lãi suất đủ hấp dẫn để bảo đảm quyền lợi người gửi tiền, đồng thời tạo dư địa giảm lãi suất cho vay.
Nếu lãi suất huy động giảm không hợp lý, hành vi của người gửi tiền có thể thay đổi, ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của ngân hàng. Điều này cho thấy dư địa giảm lãi suất cho vay không chỉ phụ thuộc vào quyết định của từng tổ chức tín dụng mà còn gắn với diễn biến cung - cầu vốn trên thị trường.
Ông Đào Minh Tú - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (ảnh: Hoàng Giáp).Ở góc độ toàn hệ thống, ông Đào Minh Tú - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam - cho rằng, giảm lãi suất trước mắt là yêu cầu cấp thiết, nhưng về lâu dài cần giải quyết những vấn đề mang tính cơ cấu của thị trường vốn. Theo ông Tú, mặt bằng lãi suất hiện nay còn cao so với khả năng sinh lời của nhiều doanh nghiệp. Vì vậy, các ngân hàng cần chia sẻ khó khăn với khách hàng, ngay cả khi việc giảm lãi suất tác động đến kế hoạch lợi nhuận, tăng vốn và phát triển của chính mình.
Ông Tú cho rằng muốn giảm lãi suất một cách bền vững cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, đồng thời phát triển các kênh huy động vốn ngoài hệ thống ngân hàng. Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế chủ yếu tập trung vào hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng phải gia tăng huy động tiền gửi để đáp ứng nhu cầu cho vay. Áp lực cạnh tranh huy động vốn từ đó tăng lên, đẩy chi phí đầu vào và tạo sức ép đối với lãi suất cho vay.
Nếu thị trường vốn phát triển lành mạnh, doanh nghiệp có thể tiếp cận thêm nguồn lực từ các kênh như thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Khi áp lực cung - cầu tín dụng được giảm bớt, các ngân hàng sẽ có thêm điều kiện duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý.