Sinh ngày 19/3/1962 tại xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, GS.TS Chu Văn Đạt lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho giáo. Tuổi thơ trải qua nhiều khó khăn nhưng chính môi trường gia đình đã hun đúc ở ông tinh thần hiếu học và ý chí bền bỉ. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông thi đỗ vào Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự) với số điểm cao. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn tổng động viên, ông từng đăng ký nhập ngũ trước khi nhận giấy báo nhập học và được cử sang Liên Xô đào tạo chuyên ngành kỹ thuật quân sự.
Những năm học tập tại Liên Xô được xem là nền tảng quan trọng đối với sự nghiệp khoa học của ông sau này. Sau khi tốt nghiệp loại giỏi năm 1986, ông trở về nước công tác tại Học viện Kỹ thuật Quân sự và gắn bó với môi trường này cho đến nay. Đồng nghiệp đánh giá ông là người làm việc khoa học, kỷ luật, luôn đặt yêu cầu chuyên môn và tính ứng dụng thực tiễn lên hàng đầu.
GS.TS Chu Văn Đạt khảo sát thi công đường hầm giao thông. Ảnh: QĐNDTrong suốt quá trình công tác, GS.TS Chu Văn Đạt tập trung nghiên cứu các lĩnh vực cơ khí công binh, xe máy công binh và thiết bị phục vụ quốc phòng. Ông từng đảm nhiệm vai trò Chủ nhiệm Bộ môn Xe máy Công binh của Học viện Kỹ thuật Quân sự – một đơn vị đào tạo và nghiên cứu có tính đặc thù cao trong quân đội.
Nhiều công trình nghiên cứu do ông chủ trì hoặc tham gia đã được ứng dụng thực tế, phục vụ nhiệm vụ quốc phòng và phát triển hạ tầng kỹ thuật. Có thể kể đến các đề tài thiết kế, chế tạo thiết bị bốc xúc vật liệu trong thi công đường hầm; máy xúc thủy lực gầu ngược; thiết kế cầu phao vượt sông; cải tiến, hiện đại hóa các bộ cầu cứng phục vụ công binh. Những năm gần đây, ông cùng đồng nghiệp tham gia nghiên cứu các dự án mang tính chiến lược như thiết kế xe thiết giáp chở quân, xe tăng hạng nhẹ và nhiều hệ thống kỹ thuật quân sự khác.
Theo các bài viết giới thiệu từ giới chuyên môn, điều làm nên dấu ấn của GS.TS Chu Văn Đạt không chỉ nằm ở số lượng công trình khoa học mà còn ở tư duy nghiên cứu gắn liền với thực tiễn. Ông luôn cho rằng giá trị của khoa học không dừng lại trong phòng thí nghiệm mà phải giải quyết được những yêu cầu cụ thể của đời sống và nhiệm vụ quốc phòng. Trong điều kiện nghiên cứu còn nhiều khó khăn về trang thiết bị và kinh phí, ông vẫn kiên trì theo đuổi các đề tài có tính ứng dụng cao, trực tiếp phục vụ quân đội và nhân dân.
Những đóng góp đó được ghi nhận bằng hơn 100 bài báo khoa học, trong đó có nhiều công trình đăng trên các tạp chí chuyên ngành uy tín trong và ngoài nước. Ông từng tham gia nhiều hội đồng khoa học quan trọng như Hội đồng chức danh Giáo sư liên ngành Cơ khí – Động lực, Hội đồng Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ quân sự của Bộ Quốc phòng, đồng thời đảm nhiệm vai trò tư vấn, phản biện cho nhiều đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước.
Những công trình nghiên cứu của GS.TS Chu Văn Đạt đều mang tính ứng dụng cao. Ảnh minh họaBên cạnh nghiên cứu, GS.TS Chu Văn Đạt còn được nhiều thế hệ học trò kính trọng bởi sự tận tâm trong giảng dạy. Với ông, đào tạo con người là nhiệm vụ quan trọng không kém nghiên cứu khoa học. Trong nhiều năm đứng trên giảng đường, ông đã trực tiếp hướng dẫn thành công 14 nghiên cứu sinh. Không ít học trò của ông hiện là phó giáo sư, viện trưởng, hiệu trưởng hoặc giữ các vị trí quản lý, nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự và giáo dục đại học.
Các học viên từng học tập cùng ông cho biết, điều họ nhận được không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn là phương pháp tư duy độc lập, tác phong làm việc nghiêm túc và tinh thần trung thực trong nghiên cứu khoa học. Nhiều đồng nghiệp nhận xét, dù giữ nhiều trọng trách chuyên môn, GS.TS Chu Văn Đạt vẫn duy trì lối sống giản dị, gần gũi và luôn dành thời gian hỗ trợ cán bộ trẻ trong nghiên cứu.
Hơn 60 năm xây dựng và phát triển của Viện Cơ khí động lực nói riêng và Học viện Kỹ thuật Quân sự nói chung là hành trình được tạo nên bởi nhiều thế hệ nhà giáo, nhà khoa học quân đội. Trong hành trình ấy, GS.TS Chu Văn Đạt được xem như một gương mặt tiêu biểu của lớp trí thức quân sự luôn bền bỉ với nghiên cứu, tận tụy với đào tạo và âm thầm đóng góp cho sự phát triển của khoa học công nghệ quốc phòng Việt Nam.