Trong báo cáo chiến lược mới công bố, VPBankS Research đã dự báo triển vọng ngành ngân hàng trong 6 tháng cuối năm 2026.
Theo đó, đơn vị này kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ tăng tốc nhờ các chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong khi biên lãi ròng (NIM) có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng và nợ xấu vẫn được kiểm soát.
Tín dụng được kỳ vọng tăng tốc trong nửa cuối năm
Theo VPBankS, tính đến ngày 29/6/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 7,7%. Dù thấp hơn nền cao của năm 2025, mức này vẫn vượt cùng kỳ năm 2024, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế tiếp tục duy trì tích cực.
Trên cơ sở đó, VPBankS dự báo tăng trưởng tín dụng cả năm 2026 có thể đạt 16,5%, cao hơn mục tiêu định hướng 15% của NHNN.
Động lực chính đến từ việc mở rộng dư địa tín dụng thông qua cơ chế loại trừ hạn mức đối với 18 dự án trọng điểm theo Công văn 5386/NHNN-TD. Với tổng nhu cầu vốn khoảng 752.138 tỷ đồng, trong đó dự kiến giải ngân 210.047 tỷ đồng trong năm 2026, cơ chế này có thể đóng góp khoảng 1 % vào tăng trưởng tín dụng.
Bên cạnh đó, Thông tư 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% cũng giúp các ngân hàng có thêm dư địa tài trợ các khoản vay dài hạn, hỗ trợ tăng trưởng dư nợ và thu nhập lãi thuần trong nửa cuối năm.
Nguồn: VPBankSThanh khoản cải thiện, NIM tiếp tục phân hóa
VPBankS cho rằng, nguồn vốn của hệ thống sẽ cải thiện nhờ tiền gửi khách hàng phục hồi, chính sách hỗ trợ và việc các ngân hàng đa dạng hóa kênh huy động.
Tuy nhiên, lãi suất huy động được dự báo chỉ đi ngang hoặc tăng nhẹ ở một số kỳ hạn dài khi nhu cầu tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Đến ngày 26/6/2026, tăng trưởng huy động toàn ngành đạt khoảng 5,02%, vẫn thấp hơn mức tăng tín dụng 7,41%, cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn vẫn hiện hữu.
Ngoài tiền gửi truyền thống, các ngân hàng tiếp tục tăng huy động thông qua giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các khoản vay trung, dài hạn từ thị trường quốc tế. Theo thống kê của VPBankS tại 25 ngân hàng niêm yết, quy mô giấy tờ có giá tăng 35,7% so với cùng kỳ và 11,8% so với quý trước trong quý I/2026.
Trong bối cảnh đó, VPBankS nhận định, NIM toàn ngành sẽ tiếp tục phân hóa. Chi phí vốn đã tăng lên 4,2% trong quý I/2026, từ mức 3,6% của cùng kỳ năm trước, trong khi NIM giảm còn 2,9%, cho thấy lợi suất tài sản sinh lãi chưa theo kịp tốc độ tăng của chi phí đầu vào.
Nguồn: VPBankSTheo VPBankS, nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ có lợi thế nhờ nền vốn lớn, ổn định, chi phí vốn hợp lý và nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước dồi dào. Khả năng tài trợ các khoản vay quy mô lớn cũng giúp nhóm này tận dụng tốt hơn nhu cầu vốn từ đầu tư công, hạ tầng và các dự án trọng điểm.
Ngược lại, một số ngân hàng tư nhân phụ thuộc nhiều hơn vào tiền gửi kỳ hạn dài, giấy tờ có giá hoặc các kênh huy động chi phí cao sẽ chịu áp lực lớn hơn lên NIM. Do đó, lợi nhuận nhóm này sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tăng trưởng dư nợ, kiểm soát chi phí hoạt động và mở rộng thu nhập ngoài lãi thay vì kỳ vọng NIM phục hồi.
Nguồn: VPBankSNợ xấu được kiểm soát, ưu tiên nhóm có bộ đệm dự phòng cao
VPBankS dự báo, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành sẽ duy trì tương đối ổn định trong nửa cuối năm nhờ bộ đệm dự phòng đã được tích lũy trong các quý trước và tăng trưởng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, xuất khẩu và công nghệ cao.
Đối với chi phí dự phòng, VPBankS đánh giá, Vietcombank, ACB và Techcombank sẽ tiếp tục duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp cùng bộ đệm dự phòng cao, qua đó giữ chi phí trích lập trên dư nợ gộp ở mức dưới 1%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận.
Trong nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc, HDBank và MB được kỳ vọng duy trì chi phí trích lập trên dư nợ gộp đi ngang so với cùng kỳ. Trong đó, HDBank tiếp tục xử lý nợ xấu, còn MB duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) ở mức tiệm cận 100%. Riêng VPBank được dự báo chi phí trích lập trên dư nợ gộp sẽ giảm khoảng 1% so với cùng kỳ nhờ nền cao của năm trước.
Nguồn: VPBankSỞ góc độ dài hạn, VPBankS cho biết, NHNN đang từng bước hoàn thiện khung quản lý an toàn hệ thống theo hướng thận trọng hơn. Theo dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019, chỉ tiêu LDR sẽ được thay bằng CDR, đồng thời bổ sung các chỉ tiêu thanh khoản như LCR, NSFR theo lộ trình từ năm 2028-2031 cùng chỉ tiêu đòn bẩy LEV.
VPBankS nhận định các thay đổi này sẽ giúp hệ thống ngân hàng vận hành an toàn và bền vững hơn, giảm rủi ro mất cân đối kỳ hạn. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu áp dụng, áp lực tuân thủ sẽ có sự phân hóa. Những ngân hàng có nền vốn ổn định, tỷ lệ LDR/CDR hợp lý và khả năng huy động vốn dài hạn tốt sẽ có nhiều lợi thế hơn, trong khi các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn hoặc duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao sẽ cần thêm thời gian để điều chỉnh bảng cân đối.