Đi tìm nền tảng cho tăng trưởng bền vững

Theo tính toán của Bộ Tài chính, để duy trì tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, hơn gấp đôi giai đoạn 2021–2025.
Nhóm chuyên gia HSBC
Nhóm chuyên gia HSBC
46 bài viết

Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên tăng trưởng mới, với yêu cầu cao hơn về quy mô, tốc độ và chất lượng phát triển. Hạ tầng cần được mở rộng, năng lượng phải chuyển đổi, sản xuất cần nâng cao giá trị gia tăng, trong khi doanh nghiệp cần đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Nhu cầu vốn vì thế cũng thay đổi cả về lượng lẫn chất. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để duy trì tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, hơn gấp đôi giai đoạn 2021–2025. Riêng mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đòi hỏi Việt Nam huy động lượng vốn tương đương 6,8% GDP mỗi năm, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, tương đương khoảng 358 tỷ USD đến năm 2040.

Trong khi đó, các kênh huy động vốn trong nước chưa đủ đa dạng để đáp ứng toàn bộ nhu cầu này. Tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ đạo, nhưng sẽ khó gánh toàn bộ các dự án có quy mô lớn, thời hạn dài và có yêu cầu đầu tư công nghệ cao. Tín dụng xanh trong nước dù tăng nhanh vẫn mới chiếm hơn 4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, với dư nợ khoảng 828.000 tỷ đồng vào cuối Quý 2/2026 theo Ngân hàng Nhà nước.

Đa dạng hoá nguồn vốn, đặc biệt là tiếp cận các kênh huy động vốn quốc tế, vì vậy không chỉ là lựa chọn tài chính. Đây là điều kiện để doanh nghiệp và nền kinh tế duy trì sức cạnh tranh trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Ba kênh vốn quốc tế quan trọng

Đầu tiên là vốn cổ phần từ các nhà đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn này thường mang lại nhiều giá trị khác bên cạnh tiền, đó có thể là công nghệ xanh, năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh nghiệm quản trị và khả năng kết nối với chuỗi cung ứng quốc tế. Vốn cổ phần cũng đồng nghĩa nhà đầu tư chia sẻ rủi ro cùng doanh nghiệp và không tạo áp lực trả nợ ngắn hạn, phù hợp với các công ty đang mở rộng nhanh hoặc đầu tư vào lĩnh vực mới.

Kênh thứ hai là vốn vay trung và dài hạn, bao gồm tài trợ dự án, tín dụng xuất khẩu, khoản vay hợp vốn, ODA và trái phiếu quốc tế. Đây là nguồn vốn phù hợp với các dự án hạ tầng lớn như năng lượng, đường sắt, cảng biển và các chương trình chuyển đổi năng lượng. Tuy nhiên, vốn vay dài hạn đòi hỏi doanh nghiệp và cơ quan thực hiện dự án phải có kế hoạch dòng tiền đáng tin cậy, cùng cơ chế quản trị chặt chẽ về tỷ giá, lãi suất và nghĩa vụ nợ.

Kênh thứ ba là tài trợ thương mại và tài trợ chuỗi cung ứng. Chuyển đổi xanh không chỉ cần tiền để mua thiết bị hay xây dựng hạ tầng, doanh nghiệp còn cần vốn lưu động để mua nguyên liệu, thực hiện đơn hàng và duy trì hoạt động trong thời gian chờ thanh toán. Đặc biệt với doanh nghiệp xuất khẩu, tài trợ thương mại gắn với các chỉ tiêu bền vững có thể hỗ trợ yêu cầu về minh bạch, truy xuất và giảm phát thải.

Việc lựa chọn công cụ cần dựa trên mục đích sử dụng vốn. Khoản vay xanh phù hợp với các hạng mục được xác định rõ, như thiết bị tiết kiệm năng lượng, điện mặt trời mái nhà hoặc hệ thống xử lý nước thải. Khoản vay liên kết bền vững phù hợp với doanh nghiệp cần linh hoạt dòng tiền nhưng cam kết cải thiện các chỉ số bền vững. Trái phiếu xanh có thể là lựa chọn phù hợp cho doanh nghiệp có năng lực báo cáo tốt và cần đa dạng hoá nguồn vốn trung, dài hạn.

Các giao dịch HSBC thu xếp gần đây như khoản vay hợp vốn xanh cho Gamuda Land năm 2025 hay khoản tài trợ cho Vinfast do Cơ quan tín dụng xuất khẩu Italy (SACE) bảo lãnh năm 2026 cho thấy khi doanh nghiệp có dữ liệu cũng như khung chiến lược bền vững rõ ràng là một yếu tố quan trọng giúp thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế.

Doanh nghiệp cần chuẩn bị nội lực

Để tiếp cận vốn quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam trước hết cần nâng cao chất lượng minh bạch và báo cáo. Khoảng cách giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và thông lệ quốc tế cần từng bước được thu hẹp. Thông tin phải được công bố đúng chuẩn, đủ chi tiết và đúng thời điểm. Nhà đầu tư không chỉ muốn biết doanh nghiệp đang tăng trưởng nhanh đến đâu, mà còn muốn hiểu dòng tiền được tạo ra như thế nào và các rủi ro được kiểm soát ra sao.

Tiếp theo, doanh nghiệp nên chuẩn bị cho việc xếp hạng tín nhiệm theo chuẩn quốc tế khi điều kiện cho phép. Xếp hạng từ các tổ chức như S&P, Moody's hoặc Fitch có thể giúp mở rộng nhóm nhà đầu tư, tăng khả năng tiếp cận các thị trường vốn và giảm phần bù rủi ro.

Cuối cùng, ESG cần được tích hợp vào chiến lược vận hành thay vì chỉ xuất hiện trong tài liệu huy động vốn. Doanh nghiệp cần đặt ra mục tiêu định lượng, xây dựng KPI rõ ràng, xác định dữ liệu cần thu thập và thiết lập cơ chế theo dõi, báo cáo định kỳ. Một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận khoản vay xanh, khoản vay liên kết bền vững và trái phiếu xanh thuận lợi hơn. Tại Việt Nam, 82% doanh nghiệp có tiến hành thu thập dữ liệu ESG, 43% áp dụng các chuẩn mực được công nhận và 32% có xác minh độc lập, những con số này cho thấy bước tiến đáng khích lệ nhưng vẫn còn dư địa để làm tốt hơn.

Đi tìm nền tảng cho tăng trưởng bền vững- Ảnh 1.

Tác giả bài viết: Bà Lâm Thúy Nga, Giám đốc toàn quốc Khối Khách hàng doanh nghiệp trong nước, HSBC Việt Nam

Khơi thông dòng vốn

Để dòng vốn quốc tế chưa chảy mạnh vào các dự án hạ tầng và dự án xanh tại Việt Nam, cần tháo gỡ một số rào cản. Thứ nhất, thị trường cần có những thương vụ chuẩn mực để tạo tham chiếu về kỳ hạn, cấu trúc và giá vốn cho cả khu vực công lẫn tư nhân.

Thứ hai là củng cố sự minh bạch, dữ liệu và công bố thông tin. Dữ liệu nhất quán và có khả năng kiểm chứng giúp giảm lo ngại về đánh giá hiệu quả thực tế, đồng thời rút ngắn quá trình thẩm định.

Thứ ba, để đủ điều kiện vay vốn, nhiều dự án cần hoàn thiện về pháp lý, dòng tiền, cơ chế giá, hợp đồng hoặc phân bổ rủi ro. Một dự án có tác động môi trường tích cực vẫn cần cấu trúc tài chính khả thi. Một dự án dù mang lại tác động tích cực cho môi trường vẫn phải chứng minh được khả năng tạo dòng tiền và hoàn vốn, bởi đây luôn là yếu tố cốt lõi trong mọi quyết định đầu tư.

Thứ tư, hệ sinh thái xác minh và bảo đảm ESG độc lập vẫn đang phát triển. Khi năng lực chuẩn hoá, xác minh và báo cáo được nâng lên, nhà đầu tư sẽ có cơ sở rõ ràng hơn để đánh giá rủi ro và giải ngân nhanh hơn.

Vai trò của ngân hàng quốc tế

Ngân hàng quốc tế có thể đóng vai trò cầu nối giữa nhu cầu vốn tại Việt Nam và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư toàn cầu.

Trước hết là tư vấn cấu trúc: xác định doanh nghiệp hoặc dự án nên sử dụng trái phiếu, khoản vay hợp vốn, tài trợ dự án, tài trợ thương mại xanh hay khoản vay liên kết bền vững. Tiếp đó là thu xếp và phân phối vốn, tận dụng mạng lưới quốc tế để tiếp cận các nhà đầu tư và ngân hàng theo khu vực, đồng tiền và kỳ hạn khác nhau. Cuối cùng là nâng chuẩn giao dịch, hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu, KPI, khung bền vững, quản trị và công bố thông tin.

Với mạng lưới tại 57 thị trường, HSBC có thể hỗ trợ kết nối doanh nghiệp Việt Nam với nguồn vốn đa dạng hơn, đồng thời giúp xây dựng lộ trình chuyển đổi thực tế trong 12–24 tháng. Các giao dịch gần đây trong lĩnh vực xanh, hạ tầng và tài chính bền vững cho thấy khi dự án được thiết kế phù hợp và dữ liệu đủ tin cậy, nhà đầu tư quốc tế sẵn sàng phản hồi tích cực. Chẳng hạn như như khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 200 triệu USD cho Công ty cổ phần Hạ tầng Gelex công bố vào tháng 3/2026 ghi nhận mức đăng ký cao gấp đôi kỳ vọng hay khoản vay hợp vốn trị giá 750 triệu USD cho Công ty cổ phần Tập đoàn Masan công bố vào tháng 6/2026 thu hút 15 ngân hàng tham gia kết cấp vốn, với tổng nhu cầu đăng ký cao gấp 1,7 lần nhu cầu huy động của tập đoàn.

Doanh nghiệp không cần chờ mọi điều kiện hoàn hảo mới hành động. Họ cần hành động có trình tự: chuẩn bị dự án, chuẩn hoá dữ liệu, phân bổ rủi ro hợp lý, chọn đúng công cụ và tạo thêm các giao dịch tham chiếu. Trong 5–10 năm tới, lợi thế sẽ thuộc về những doanh nghiệp biến mục tiêu xanh thành dự án có thể đo lường, tài trợ và kiểm chứng. Vốn quốc tế sẽ tìm đến nơi có cơ hội rõ ràng và nhiệm vụ của doanh nghiệp Việt Nam là làm cho những cơ hội đó đủ minh bạch, tin cậy và hấp dẫn để chuyển tăng trưởng xanh thành năng lực cạnh tranh thực tế.

Tác giả bài viết: Lâm Thúy Nga, Giám đốc toàn quốc Khối Khách hàng doanh nghiệp trong nước, HSBC Việt Nam