Công trình mới nào cho hồ Gươm?

Câu hỏi thực sự không phải là Hà Nội có nên có thêm một biểu tượng hay không, mà là một biểu tượng mới sẽ nên như thế nào trong một nơi, vốn đã là một biểu tượng?
 - Ảnh 1.

Toàn cảnh hồ Gươm, Hà Nội - Ảnh: NAM TRẦN

Tôi không nghĩ mình là người duy nhất thấy băn khoăn trước câu chuyện về một công trình mới được đề xuất ở phía Bắc hồ Gươm. Tôi đọc cả những ý kiến ủng hộ lẫn phản đối. Một bên cho rằng Hà Nội là một thủ đô lớn và cần những biểu tượng mới, cần những công trình đủ mạnh để đại diện cho vị thế của thành phố. Bên kia lo rằng hồ Gươm vốn đã là một biểu tượng quá đặc biệt, đến mức thêm một biểu tượng nữa có khi không làm nơi này mạnh hơn, mà chỉ khiến những gì vốn đang có bị lu mờ.

Tôi không nghĩ đây là cuộc tranh luận ai đúng ai sai. Nó thú vị hơn thế. Bởi câu hỏi thực sự không phải là Hà Nội nên có thêm một biểu tượng hay không, mà là một biểu tượng mới sẽ nên như thế nào trong một nơi, vốn đã là một biểu tượng?

Người ta không đến hồ Gươm chỉ để nhìn một công trình

Hồ Gươm không phải một khoảng đất trống để chúng ta đặt vào đó một vật thể rồi gọi tên nó là “Hoàn Kiếm landmark”. Nó đã là một cấu trúc đô thị hoàn chỉnh, dù hoàn chỉnh theo một cách rất tự nhiên. Mặt nước, Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, hàng cây, những con phố và dòng người đi bộ tạo nên một thứ khó vẽ thành bản vẽ kỹ thuật nhưng lại rất dễ nhận ra bằng ký ức. 

Người ta không đến hồ Gươm chỉ để nhìn một công trình. Người ta đến để nhìn mặt nước, đi dưới hàng cây, gặp nhau, ngồi xuống, đi vòng quanh hồ và nhận ra mình đang ở Hà Nội.

Đó là lý do tôi nghĩ một công trình mới ở đây phải trả lời một câu hỏi khó hơn chuyện “nó đẹp không?”. Nó làm cho hồ Gươm trở nên rõ hơn, hay bắt hồ Gươm làm nền cho chính nó?

Kiến trúc, xét cho cùng, không chỉ được nhìn từ một phối cảnh đẹp. Nó được nhìn từ hàng trăm góc độ mà người thiết kế không thể kiểm soát hoàn toàn. Từ mặt hồ nhìn vào sẽ khác với từ đường Đinh Tiên Hoàng nhìn sang. Từ một người đứng cách công trình vài chục mét sẽ khác với người đang đi bộ từ Hàng Đào xuống. Ban ngày khác ban đêm. Mùa cây xanh khác mùa cây thay lá. Một công trình có thể rất đẹp khi nhìn trực diện nhưng lại trở nên nặng nề khi xuất hiện trong đường chân trời của cả khu vực.

Vì thế, điều đáng bàn không chỉ là công trình cao bao nhiêu mét. Một công trình có thể thấp nhưng khối tích vẫn quá lớn. Một công trình có thể cao nhưng vẫn nhẹ. Thứ quyết định sức nặng của nó trong đô thị là tỉ lệ giữa khối tích và khoảng trống, giữa chiều cao và bầu trời, giữa công trình và hàng cây, giữa vật thể và khoảng cách của người nhìn. Đặt một vật thể lớn bên cạnh hồ Gươm không giống đặt nó ở một khu đô thị mới. Ở đây, mỗi mét vuông khối tích đều phải cạnh tranh với một thứ vô hình nhưng cực kỳ quan trọng: khoảng trống.

Tôi cũng hiểu tại sao hình thức Khải Hoàn Môn tại Paris lại có sức hấp dẫn công chúng thế giới và đặc biệt là người Việt Nam chúng ta lớn đến như vậy. 

Ai cũng biết Hà Nội có một lớp di sản kiến trúc Pháp rất rõ. Nhà hát Lớn, bưu điện, những biệt thự và các công trình hành chính cũ đã trở thành một phần ký ức của thành phố. Nhưng có một ranh giới khá mong manh giữa kế thừa lịch sử và sản xuất lại hình ảnh của lịch sử. Những công trình Pháp cũ trở thành Hà Nội vì chúng đã sống ở đây hơn một thế kỷ. Chúng được sử dụng, biến đổi, xuống cấp, sửa chữa và cuối cùng được người Hà Nội tiếp nhận như một phần của thành phố. 

 - Ảnh 3.

Phối cảnh Khải hoàn môn

Một công trình mới mô phỏng Khải Hoàn Môn thì khác. Nó không kế thừa một ký ức của Hà Nội; nó đang chủ động nhập một biểu tượng của nơi khác vào trung tâm Hà Nội.

Điều đó làm tôi nhận ra rằng, không có nghĩa, cứ thiết kế theo kiểu kiến trúc phương Tây là không phù hợp. Vấn đề nằm ở chỗ: Hà Nội của thế kỷ XXI muốn kể câu chuyện của mình bằng ngôn ngữ của ai?

Nhưng nếu quay sang làm một công trình “rất Việt Nam” thì câu chuyện cũng chưa chắc đơn giản hơn. Mái cong, cổng thành, họa tiết Đông Sơn, chim hạc hay những hình thức truyền thống có thể khiến một công trình trông Việt Nam ngay lập tức. Nhưng bản sắc không nằm ở việc chúng ta trang trí bao nhiêu biểu tượng Việt Nam lên một khối nhà. Nếu chỉ lấy những hình thức quen thuộc rồi phóng chúng lên một tỉ lệ khổng lồ, rất dễ tạo ra một thứ na ná “di sản” hơn là thực sự có liên hệ với di sản.

Kiến trúc truyền thống Việt Nam có những thứ sâu hơn hình thức: bóng râm, mái hiên, mái đình cong vút, cây, nước, gạch thông gió, những khoảng chuyển tiếp giữa trong và ngoài, và đặc biệt là tỉ lệ con người. 

Ngay cạnh hồ Gươm đã có những di sản thật, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, tháp Rùa. Chúng không cần phải được “Việt Nam hóa” thêm. Đôi khi, cách tôn trọng di sản tốt nhất không phải là xây thêm một thứ trông giống nó, mà là đừng làm nó bị khuất khỏi tầm nhìn.

Một biểu tượng đôi khi không cần đứng cao hơn thành phố

Tính biểu tượng không nhất thiết phải đến từ chiều cao. Nó có thể đến từ mặt cắt, từ hành trình của du khách, từ vật liệu, ánh sáng, khoảng trống và ký ức. Một biểu tượng đôi khi không cần đứng cao hơn thành phố, nó chỉ cần khiến con người trải nghiệm thành phố theo một cách khác.

Từ góc nhìn ấy, hồ Gươm có thể đặt ra một khả năng khác: thay vì hỏi “cần dựng gì ở đây?”, hãy hỏi “cần tạo ra không gian gì ở đây?”. Một quảng trường mới có thể không phải là một mặt phẳng lát đá khổng lồ. Nó có thể là một hệ thống vườn, bậc ngồi, khoảng trũng, không gian triển lãm, sân biểu diễn và những tuyến đi bộ liên tục. Một phần chức năng có thể nằm dưới mặt đất để trả lại mặt bằng phía trên cho cây xanh, mặt nước và con người.

Và chính ở đây, tôi nghĩ câu chuyện về hạ tầng mới thực sự đáng quan tâm. Chúng ta thường nói rất nhiều về hình ảnh của một công trình, nhưng lại nói quá ít về những thứ quyết định một không gian công cộng có thực sự sống được hay không: bóng râm, ghế ngồi, nhà vệ sinh, nước uống, chỗ nghỉ cho người già, không gian cho trẻ em, lối tiếp cận cho người khuyết tật, chỗ để xe đạp, chiếu sáng, an ninh và khả năng trú mưa và lối tiếp cận vào nhà ga ngầm metro. 

Một quảng trường có thể đẹp đến mức xuất hiện trên mọi tạp chí kiến trúc nhưng nếu buổi trưa Hà Nội tháng sáu không có chỗ tránh nắng, trời mưa không có chỗ trú, người già không có chỗ ngồi và người khuyết tật phải tìm một con đường vòng để tiếp cận thì nó vẫn là một không gian công cộng chưa hoàn chỉnh. Chúng ta quá dễ bị thuyết phục bởi cái nhìn từ trên cao, trong khi đời sống đô thị gần như lại diễn ra ở độ cao khoảng một mét bảy.

 - Ảnh 4.

Khu vực quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục - Ảnh: NAM TRẦN

Nếu metro hồ Gươm trong tương lai đưa thêm hàng nghìn người vào khu vực trung tâm, câu chuyện càng không thể chỉ dừng ở một công trình landmark. Lối xuống metro, quảng trường, phố đi bộ, cây xanh và các tuyến phố xung quanh cần được nghĩ như một hệ thống. Người ta phải có thể bước ra khỏi ga, đi vào quảng trường, ngồi nghỉ, tiếp tục ra phố mà không bị cắt ngang bởi hàng rào, đường xe hay những khối kỹ thuật. Một hệ thống giao thông tốt không chỉ đưa người ta đến hồ Gươm, nó phải đưa người ta vào được đời sống của hồ Gươm.

Cá nhân tôi lại đặc biệt thích phối cảnh mặt cắt thể hiện tầng hầm phía quảng trường Hòa Bình (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục) của phương án đang được tổ chức lấy ý kiến. Bãi đậu xe hầm, nhà vệ sinh, hệ thống kỹ thuật, kho vận hành, không gian dịch vụ, một phần giao thông công cộng có thể nằm dưới mặt đất. Trên mặt bằng trệt của phương án, thứ còn lại là cây, nước, bóng râm, quảng trường và con người. Hạ tầng càng tốt thì càng ít cần phải xuất hiện như một “vật thể”. 

Tôi hiểu những người muốn Hà Nội có thêm một biểu tượng ấn tượng. Thành phố cần những dấu ấn của thời đại mình. Nhưng tôi cũng hiểu những người lo lắng cho hồ Gươm, bởi có những thứ không thể xây lại nếu đã mất: khoảng trống, tỉ lệ, hàng cây, mặt nước và cảm giác bình thản rất đặc biệt của nơi này.

Vì vậy, có lẽ câu hỏi cuối cùng không phải là “Khải Hoàn Môn bên hồ Gươm có đẹp không?” mà là: “Sau khi nó xuất hiện, chúng ta còn nhìn thấy hồ Gươm như trước không?”.

Đọc tiếp Về trang Chủ đề