Ảnh minh hoạQuy mô hơn 2,18 triệu tỷ đồng và mức độ tập trung tài sản
Tại cuối quý I, danh mục tự doanh của 27 ngân hàng niêm yết đạt hơn 2,18 triệu tỷ đồng, gồm chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn, mua cổ phần và trạng thái phái sinh ròng. Riêng hai khoản mục chính là chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư đạt khoảng 2,17 triệu tỷ đồng, cho thấy phần trọng yếu nằm ở chứng khoán trên bảng cân đối.
Với ngân hàng thương mại, tự doanh không đồng nghĩa với mua bán cổ phiếu ngắn hạn như tại công ty chứng khoán. Danh mục này chủ yếu gồm trái phiếu Chính phủ, tín phiếu, giấy tờ có giá, chứng khoán sẵn sàng để bán và chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn, phục vụ quản trị thanh khoản, kỳ hạn và lợi suất tài sản.
Bối cảnh tín dụng, huy động và lãi suất phân hóa là nguyên nhân quan trọng khiến danh mục này duy trì quy mô lớn. Khi tín dụng chưa hấp thụ đều nguồn vốn hoặc ngân hàng cần bộ đệm thanh khoản, chứng khoán nợ và giấy tờ có giá trở thành kênh phân bổ vốn phù hợp hơn so với để vốn nhàn rỗi.
BIDV dẫn đầu với 310.125 tỷ đồng, chiếm 14,2% tổng danh mục của 27 ngân hàng. MB đứng thứ hai với 269.109 tỷ đồng, tương đương 12,32%, còn VietinBank xếp thứ ba với 213.638 tỷ đồng, tương đương 9,78%. Ba ngân hàng này nắm 792.872 tỷ đồng, chiếm 36,31% toàn nhóm.
Nếu mở rộng sang 5 ngân hàng lớn nhất gồm BIDV, MB, VietinBank, Vietcombank và ACB, quy mô danh mục đạt 1,12 triệu tỷ đồng, chiếm 51,14%. Nhóm 10 ngân hàng dẫn đầu đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tương đương 74,54% toàn nhóm. Mức tập trung này phản ánh lợi thế bảng cân đối, quy mô huy động, năng lực thanh khoản và khả năng tham gia thị trường tiền tệ của các ngân hàng lớn.
Quy mô danh mục phân hóa rõ giữa nhóm ngân hàng đầu ngành và phần còn lạiNếu tính trên tổng tài sản, tỷ lệ bình quân của 27 ngân hàng đạt 10,08%. ABBank ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 24,25%, tiếp theo là MSB với 20,51%, OCB với 17,5%, VietBank với 17,45%, Bac A Bank với 17,17% và MB với 16,7%.
Ngược lại, BIDV, VietinBank và Vietcombank có tỷ trọng thấp hơn, lần lượt ở mức 9,15%, 7,31% và 6,68%, do cho vay khách hàng vẫn là cấu phần tài sản chính. Khác biệt này cho thấy nhóm ngân hàng quốc doanh dẫn đầu về quy mô tuyệt đối, trong khi một số ngân hàng tầm trung có mức độ phụ thuộc tương đối cao hơn vào tài sản tài chính.
So với cuối năm trước, quy mô danh mục tăng 46.123 tỷ đồng, tương đương 2,16%. MB tăng mạnh nhất, thêm 37.488 tỷ đồng; sau đó là HDBank tăng 13.720 tỷ đồng, ABBank tăng 11.217 tỷ đồng, Nam A Bank tăng 6.121 tỷ đồng và TPBank tăng 5.004 tỷ đồng.
So với cùng kỳ, tổng quy mô danh mục tăng 176.640 tỷ đồng, tương đương 8,8%. ABBank tăng mạnh nhất về giá trị tuyệt đối với 33.419 tỷ đồng, tiếp theo là HDBank tăng 26.626 tỷ đồng, MSB tăng 24.754 tỷ đồng, Nam A Bank tăng 20.590 tỷ đồng và ACB tăng 18.709 tỷ đồng.
Chứng khoán đầu tư chiếm áp đảo gần 95% danh mục chính
Tổng chứng khoán đầu tư của 27 ngân hàng đạt 2,05 triệu tỷ đồng, chiếm 94,65% tổng quy mô của hai cấu phần chính là chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư. Ngược lại, chứng khoán kinh doanh đạt 116.046 tỷ đồng, chiếm 5,35%; nếu tính theo quy mô ròng, khoản mục này đạt 114.913 tỷ đồng, tương đương khoảng 5,3%.
Tỷ trọng thấp của chứng khoán kinh doanh cho thấy tự doanh ngân hàng không chủ yếu dựa vào mua bán ngắn hạn. Trọng tâm nằm ở nắm giữ chứng khoán nợ để phục vụ thanh khoản, lợi suất tài sản và quản trị bảng cân đối.
Bên trong chứng khoán đầu tư, nhóm sẵn sàng để bán đạt 1,73 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 84,24%. Nhóm giữ đến ngày đáo hạn đạt 338.177 tỷ đồng, tương ứng 16,48%. Cơ cấu này phản ánh nhu cầu vừa linh hoạt khi lãi suất thay đổi, vừa duy trì dòng tiền lãi ổn định từ các khoản nắm giữ đến kỳ hạn.
Cơ cấu tài sản cho thấy chứng khoán đầu tư giữ vai trò chủ đạo trong danh mụcMB dẫn đầu ở chứng khoán sẵn sàng để bán với 259.055 tỷ đồng. Các vị trí tiếp theo thuộc về VietinBank với 189.754 tỷ đồng, BIDV với 172.151 tỷ đồng, Techcombank với 141.481 tỷ đồng và ACB với 135.654 tỷ đồng.
Ở danh mục chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn, BIDV đứng đầu với 105.774 tỷ đồng, sau đó là Sacombank với 64.961 tỷ đồng, VietBank 28.147 tỷ đồng, Vietcombank 25.625 tỷ đồng và VietinBank 19.764 tỷ đồng.
Xét theo tài sản cơ sở, trái phiếu Chính phủ và tín phiếu đạt 819.009 tỷ đồng, chiếm 37,51% tổng danh mục tự doanh. BIDV nắm giữ 115.942 tỷ đồng, VietinBank đạt 109.488 tỷ đồng, Vietcombank 75.680 tỷ đồng, MB 63.453 tỷ đồng và Sacombank 63.364 tỷ đồng. Đây là nhóm tài sản có tính chuẩn hóa cao, dễ định giá hơn và có thể sử dụng trong các nghiệp vụ thị trường tiền tệ.
Trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán nợ do tổ chức kinh tế phát hành đạt 153.584 tỷ đồng, tương đương 7,03% tổng danh mục. Techcombank dẫn đầu với 56.650 tỷ đồng, tiếp theo là MB với 23.127 tỷ đồng, VPBank 17.704 tỷ đồng, HDBank 14.921 tỷ đồng và SeABank 9.689 tỷ đồng.
Cấu phần này phản ánh khác biệt khẩu vị tài sản giữa các ngân hàng, do trái phiếu doanh nghiệp thường có lợi suất cao hơn nhưng đòi hỏi đánh giá tín dụng, tài sản bảo đảm, kỳ hạn và thanh khoản thứ cấp chặt chẽ hơn.
Kinh doanh ngoại hối dẫn dắt hiệu quả sinh lời trong quý
Tổng lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối của 27 ngân hàng đạt 6.036 tỷ đồng, đóng góp 6,41% vào tổng lợi nhuận trước thuế và chiếm 3,17% tổng thu nhập hoạt động. Vietcombank dẫn đầu với 1.678 tỷ đồng; BIDV đạt 1.109 tỷ đồng, VietinBank 1.085 tỷ đồng, Techcombank 584 tỷ đồng, ACB 483 tỷ đồng và LPBank 397 tỷ đồng.
Điểm đáng chú ý là quy mô tự doanh nằm chủ yếu ở chứng khoán đầu tư, nhưng lợi nhuận quý lại thể hiện rõ hơn ở ngoại hối. Mảng này không chỉ là giao dịch trạng thái, mà còn gắn với khách hàng xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, giao dịch giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi ngoại tệ.
Vietcombank, BIDV và VietinBank cùng nằm trong nhóm dẫn đầu lãi ngoại hối nhờ quy mô khách hàng ngoại tệ, mạng lưới thanh toán quốc tế và năng lực xử lý giao dịch lớn. Ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận kết quả âm, gồm VPBank lỗ 420 tỷ đồng, VIB lỗ 356 tỷ đồng, Bac A Bank lỗ 74 tỷ đồng, MB lỗ 32 tỷ đồng và TPBank lỗ 29 tỷ đồng.
Mức đóng góp của ngoại hối vào lợi nhuận trước thuế cũng phân hóa mạnh. Vietcombank ghi nhận tỷ lệ 14,21%, BIDV là 12,93% và VietinBank đạt 9,74%. Một số ngân hàng nhỏ hơn có tỷ trọng cao hơn, như SeABank với 26,38%, PGBank 25,57%, BaoViet Bank 23,93% và NCB 19,78%, chủ yếu do nền lợi nhuận trước thuế nhỏ hơn.
Trong khi đó, mảng mua bán chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư ghi nhận tổng lãi thuần đã thực hiện chỉ 127 tỷ đồng. SeABank đạt 213 tỷ đồng, ACB 186 tỷ đồng, MB 81 tỷ đồng, Techcombank 43 tỷ đồng, KienlongBank 26 tỷ đồng và VietinBank 23 tỷ đồng.
Ở chiều âm, VPBank lỗ 224 tỷ đồng, TPBank lỗ 168 tỷ đồng, BIDV lỗ 27 tỷ đồng, OCB lỗ 12 tỷ đồng và Vietcombank lỗ 7 tỷ đồng. Chênh lệch giữa ngoại hối và mua bán chứng khoán đến từ cơ chế ghi nhận lợi nhuận: chứng khoán đầu tư chủ yếu tạo lãi định kỳ, còn ngoại hối phản ánh trực tiếp hơn vào kết quả kinh doanh trong kỳ.
Tính chung các cấu phần thu nhập liên quan đến hoạt động tự doanh, 27 ngân hàng ghi nhận tổng lãi thuần 6.852 tỷ đồng trong quý I, tương đương 7,27% tổng lợi nhuận trước thuế và 3,6% tổng thu nhập hoạt động.
Kết quả quý cho thấy ngoại hối đóng góp nổi bật hơn mua bán chứng khoánVietcombank dẫn đầu về hiệu quả tuyệt đối với 1.735 tỷ đồng. BIDV đạt 1.310 tỷ đồng, VietinBank 1.189 tỷ đồng, Techcombank 584 tỷ đồng và ACB 508 tỷ đồng.
Tổng dự phòng giảm giá chứng khoán và tổn thất đầu tư của 27 ngân hàng đạt 5.680 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,26% tổng danh mục tự doanh. Vietcombank có quy mô dự phòng lớn nhất với 3.454 tỷ đồng, kế tiếp là VPBank 516 tỷ đồng, NCB 404 tỷ đồng, ACB 329 tỷ đồng, TPBank 189 tỷ đồng và MB 189 tỷ đồng.
Tỷ lệ quy mô danh mục tự doanh trên vốn chủ sở hữu của 27 ngân hàng đạt khoảng 116,96%. ABBank ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 338,71%, tiếp theo là VietBank 264,3%, Bac A Bank 244,29%, VietABank 215,41%, MSB 192,58%, Nam A Bank 188,17% và MB 179,71%.